Aladdin và cây đèn thần là truyện cổ tích nổi tiếng gắn với bộ Nghìn lẻ một đêm, được Antoine Galland đưa vào bản dịch tiếng Pháp đầu thế kỷ XVIII. Bài viết tóm tắt sát bản Galland, giữ đúng tên công chúa Badroulboudour, đủ cả thần nhẫn lẫn thần đèn và đoạn kết với người em trai pháp sư. Sau phần truyện là ý nghĩa, nguồn gốc nhiều tranh luận và những điểm khác nhau giữa nguyên tác với phim hoạt hình.
Bạn đọc yêu thích kho tàng truyện xưa có thể tìm đọc truyện cổ tích Viên tể tướng bị trừng phạt.

Truyện Aladdin và cây đèn thần
Ngày xưa, ở kinh thành một vương quốc giàu có và rộng lớn bên Trung Hoa, có bác thợ may nghèo tên là Mustafa. Bác chỉ có một đứa con trai là Aladdin. Aladdin lêu lổng từ nhỏ, suốt ngày rong chơi ngoài phố với lũ trẻ cùng lứa, không chịu học nghề. Bố cậu buồn phiền sinh bệnh rồi mất; mẹ cậu phải quay sợi kiếm sống, còn Aladdin vẫn chứng nào tật nấy mãi tới khi lên mười lăm.
Một hôm, khi Aladdin đang chơi ngoài đường, một người lạ đến bắt chuyện. Đó là một pháp sư từ châu Phi, nhưng hắn tự xưng là em ruột của Mustafa, bỏ xứ đi bốn mươi năm nay mới về. Hắn ôm Aladdin khóc lóc, cho tiền, sắm quần áo đẹp, mang đồ ăn đến nhà, khiến hai mẹ con tin là thật. Kỳ thực, sau bao năm luyện phép và bói cát, hắn biết dưới lòng đất xứ này có một cây đèn thần, ai giữ được nó sẽ quyền thế hơn mọi vua chúa; có điều hắn không thể tự tay lấy đèn mà phải nhờ người khác trao lại.
Hắn dẫn Aladdin ra khỏi thành, đến một thung lũng hẹp giữa hai ngọn núi, nhóm lửa, rắc hương, đọc thần chú. Mặt đất rung chuyển rồi mở ra, lộ một phiến đá có gắn vòng đồng. Aladdin sợ quá định bỏ chạy thì bị hắn tát ngã. Rồi hắn dịu giọng dỗ dành, hứa kho báu dưới ấy sẽ thuộc về cậu. Aladdin nắm vòng đồng nhấc phiến đá lên dễ dàng. Pháp sư dặn: đi qua ba gian sảnh đầy những chum đồng đựng vàng mà không được dừng lại, không được để vạt áo chạm vào tường kẻo chết ngay; qua một khu vườn cây trái, lên sân thượng, lấy cây đèn đang cháy trong hốc tường, đổ dầu đi rồi mang về. Trước khi cậu xuống, hắn tháo chiếc nhẫn của mình đeo vào tay cậu, bảo là để giữ mình.
Aladdin làm đúng lời dặn. Trên đường quay ra, cậu hái đầy túi những trái cây trong vườn. Chúng óng ánh đủ màu, thật ra là kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo, nhưng cậu tưởng chỉ là thủy tinh. Đến cửa hầm, bậc cuối quá cao, cậu xin chú kéo lên. Pháp sư đòi cậu đưa cây đèn trước. Aladdin vướng đầy đồ trong áo, nói lên rồi sẽ đưa. Hai bên giằng co, pháp sư nổi giận ném hương vào lửa, đọc thần chú: phiến đá đóng sập lại, mặt đất liền như cũ. Ngay hôm ấy hắn bỏ về châu Phi.
Aladdin bị chôn trong bóng tối hai ngày, không ăn không uống. Sang ngày thứ ba, nghĩ mình chắc chết, cậu chắp tay cầu nguyện và vô tình chà vào chiếc nhẫn. Lập tức một vị thần to lớn, mặt mũi dữ tợn hiện lên, nói mình là nô bộc của chiếc nhẫn, ai đeo nhẫn thì thần vâng lệnh người ấy. Aladdin xin được ra khỏi chốn này, và chớp mắt cậu đã đứng trên mặt đất, rồi lần đường về nhà.
Nhà hết sạch cái ăn. Mẹ cậu định đem cây đèn cũ đi bán, lấy cát lau cho sáng. Bà vừa chà một cái, một vị thần khổng lồ hiện ra, nói mình là nô bộc của cây đèn, ai cầm đèn trong tay thì thần phục dịch người ấy. Bà ngất lịm. Aladdin cầm lấy đèn, sai thần mang đồ ăn tới. Thần đem đến một mâm bạc lớn với mười hai chiếc đĩa bạc bày toàn món ngon. Hai mẹ con ăn dè sẻn, hết thì mang đĩa đi bán cho một lái buôn gian, bị trả giá rẻ mạt, mãi sau một bác thợ kim hoàn lương thiện mới cho Aladdin biết giá thật. Nhờ hay lui tới các cửa hiệu lớn, Aladdin dần học được cách cư xử và hiểu ra những trái cây thủy tinh kia là châu báu vô giá. Dẫu vậy, mấy năm ấy hai mẹ con vẫn sống giản dị như xưa.
Một hôm, nhà vua ra lệnh dân chúng đóng cửa ở yên trong nhà để con gái vua là công chúa Badroulboudour tới nhà tắm. Aladdin tò mò nấp sau cánh cửa nhà tắm, được thấy dung nhan nàng và đem lòng yêu say đắm. Cậu nhờ mẹ mang một chiếc bát sứ lớn xếp đầy ngọc quý từ khu vườn dưới hầm vào dâng vua, xin cưới công chúa. Nhà vua chưa từng thấy châu báu nào đẹp như thế, muốn nhận lời ngay, nhưng quan tể tướng thầm muốn công chúa lấy con trai mình nên xin vua hoãn ba tháng. Vua hẹn bà mẹ ba tháng nữa trở lại.
Chưa hết hạn, vua đã gả công chúa cho con trai tể tướng. Đêm tân hôn, Aladdin sai thần đèn khiêng cả chiếc giường cưới về nhà mình, nhốt chàng rể vào nhà xí suốt đêm, còn chàng đặt một thanh gươm nằm giữa mình và công chúa để tỏ ý không xúc phạm nàng; sáng ra lại cho trả giường về cung. Đêm thứ hai cũng thế. Con trai tể tướng khiếp sợ, xin bỏ cuộc hôn nhân.
Hết ba tháng, mẹ Aladdin lại vào chầu. Theo kế tể tướng, vua đòi một sính lễ tưởng không ai kham nổi: bốn mươi chiếc mâm lớn bằng vàng khối đầy ắp những thứ ngọc như lần trước, do bốn mươi người nô lệ da đen đội trên đầu, đi trước là bốn mươi người nô lệ da trắng, ai nấy trẻ trung, áo quần lộng lẫy. Thần đèn sắm đủ trong chốc lát. Đoàn sính lễ đi qua phố khiến cả kinh thành sửng sốt, và nhà vua vui vẻ nhận lời.
Aladdin sai thần đèn đưa mình đi tắm, mặc quần áo sang trọng, cưỡi ngựa quý vào cung, gia nhân đi theo vãi tiền vàng cho dân chúng. Chàng xin vua cho dựng một cung điện xứng đáng với công chúa ngay trước hoàng cung. Chỉ qua một đêm, thần đèn xây xong một lâu đài bằng đá quý, vàng bạc; trên cùng là gian sảnh mái vòm có hai mươi bốn ô cửa sổ nạm kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo. Theo ý Aladdin, một ô cửa được để dở. Thợ kim hoàn của nhà vua làm hơn sáu tuần vẫn không hoàn thành được ô cửa ấy cho giống những ô kia, còn thần đèn hoàn tất nó chỉ trong một đêm. Đám cưới diễn ra linh đình. Aladdin sống rộng rãi, hay bố thí, được dân chúng hết lòng yêu mến.
Ở châu Phi, pháp sư bói cát và biết Aladdin không chết mà còn giàu sang tột bậc nhờ cây đèn. Hắn tức tối lên đường sang Trung Hoa. Nhân lúc Aladdin đi săn vắng nhà, hắn mua một giỏ đèn mới, đi rao trước cung điện, ai có đèn cũ thì đem ra đổi lấy đèn mới. Lũ trẻ chạy theo trêu hắn là thằng điên. Công chúa không biết bí mật của cây đèn cũ đặt trên gờ tường gian sảnh, sai người đem ra đổi lấy đèn mới cho vui. Có được cây đèn, đêm ấy pháp sư sai thần đèn mang cả cung điện lẫn công chúa sang châu Phi.
Sáng ra, nhà vua thấy cung điện biến mất, giận dữ sai bắt Aladdin về định chém đầu. Dân chúng thương Aladdin kéo đến vây hoàng cung, vua đành tha. Aladdin xin bốn mươi ngày để tìm lại công chúa; nếu không tìm được, chàng sẽ tự dâng đầu. Chàng lang thang mấy ngày, đến một bờ sông lúc chập tối. Định cầu nguyện, chàng xuống mép nước rửa tay rửa mặt thì trượt chân, bám vội vào một mỏm đá và vô tình chà chiếc nhẫn vào đá. Thần nhẫn hiện ra, nhưng nói việc mang cung điện về không thuộc quyền mình mà là việc của thần đèn. Aladdin bèn bảo thần đưa mình đến nơi có cung điện. Chớp mắt, chàng đã đứng dưới cửa sổ phòng công chúa giữa một đồng cỏ ở châu Phi.
Vợ chồng đoàn tụ. Công chúa kể pháp sư ngày nào cũng đến ép nàng lấy hắn, và hắn luôn giấu cây đèn trong ngực áo. Aladdin vào thành mua một ít bột độc. Theo kế chàng bày, tối ấy công chúa trang điểm lộng lẫy, giả vờ vui vẻ mời pháp sư ăn tối, rồi mời hắn chén rượu đã pha sẵn bột độc. Pháp sư uống xong ngã vật ra chết. Aladdin lấy lại cây đèn trong ngực áo hắn, sai thần đèn đưa cung điện về chỗ cũ. Sáng hôm sau, nhà vua mừng rỡ thấy con gái trở về.
Pháp sư còn một người em trai, độc ác và giỏi phép thuật chẳng kém. Biết anh mình chết, hắn sang Trung Hoa báo thù. Hắn giết một bà tu hành được dân chúng tôn kính tên là Fatime, cải trang thành bà, rồi được công chúa mời vào ở trong cung. Hắn xui công chúa xin một quả trứng chim roc treo giữa mái vòm cho cung điện thêm hoàn hảo. Aladdin bảo thần đèn mang trứng tới; thần đèn thét lên giận dữ: chim roc là chủ của thần, sao dám bắt treo chủ giữa mái vòm! Rồi thần cho biết kẻ bày ra chuyện này chính là em trai pháp sư đang giả làm bà Fatime. Aladdin giả vờ đau đầu, nhờ bà Fatime giả đến chữa; khi hắn lại gần, chàng rút dao đâm chết hắn và vạch mặt hắn trước công chúa.
Từ đó Aladdin thoát hẳn khỏi hai anh em pháp sư. Ít năm sau, nhà vua băng hà mà không có con trai; công chúa Badroulboudour lên nối ngôi và cùng Aladdin trị vì đất nước nhiều năm.
Tóm tắt theo bản tiếng Pháp “Histoire d’Aladdin, ou la Lampe merveilleuse” của Antoine Galland (Les Mille et Une Nuits)
Chú thích:
- Pháp sư châu Phi: Galland gọi hắn là magicien africain, tức người đến từ vùng Bắc Phi; truyện không cho biết tên hắn.
- Bói cát: lối bói bằng cách vạch những dấu chấm trên cát rồi đoán theo hình, rất thịnh hành trong thế giới Ả Rập xưa.
- Badroulboudour: phiên theo tiếng Ả Rập Badr al-Budur; chính Galland chú nghĩa là “trăng rằm của các trăng rằm”.
- Chim roc: loài chim khổng lồ trong truyện Ả Rập, cũng xuất hiện trong các chuyến đi biển của Sinbad.
Ý nghĩa truyện Aladdin và cây đèn thần
Từ cậu bé lêu lổng đến người biết dùng của cải
Aladdin không phải nhân vật hoàn hảo: cậu lười học nghề, làm cha buồn phiền, và lần đầu có đèn thần cũng chỉ biết sai mang đồ ăn tới. Nhưng câu chuyện cho thấy cậu thay đổi từng bước. Hai mẹ con dùng phép màu một cách dè sẻn, Aladdin chịu khó quan sát ở các cửa hiệu, học được giá trị thật của đồ vật nhờ một người thợ kim hoàn ngay thẳng. Khi đã giàu, chàng rộng rãi với dân nghèo, và chính lòng dân ấy cứu chàng khỏi lưỡi gươm khi nhà vua nổi giận. Truyện ngầm nói rằng của trời cho chỉ bền khi đi cùng cách sống tử tế.
Lòng tham tự đào hố chôn mình
Pháp sư có phép thuật, có kiên nhẫn bốn mươi năm dò tìm, nhưng lại nóng vội và tàn nhẫn: vì muốn cầm đèn trước, hắn sẵn sàng chôn sống đứa trẻ đã gọi mình là chú. Cũng vì vậy mà hắn mất cả đèn lẫn nhẫn suốt nhiều năm. Ở cuối bản Galland, nàng Scheherazade bình luận rằng gã pháp sư là kẻ bị lòng ham của cải không giới hạn chi phối, còn Aladdin biết hưởng phúc của mình một cách đúng mực.
Báu vật chỉ an toàn khi người giữ hiểu giá trị của nó
Thần đèn phục tùng bất cứ ai cầm đèn, không phân biệt thiện ác. Chỉ vì công chúa đem chiếc đèn cũ đổi lấy một chiếc mới mà không biết bí mật của nó, cả cơ nghiệp của Aladdin bay sang châu Phi. Chi tiết này vừa là bài học về sự cẩn trọng, vừa nhắc rằng những điều hệ trọng trong gia đình nên được chia sẻ. Đổi lại, công chúa Badroulboudour không hề thụ động: chính nàng đóng vai chính trong màn kịch tối hôm ấy để hạ gã pháp sư.
Gần gũi với truyện cổ tích Việt Nam
Giống Thạch Sanh với cây đàn thần và niêu cơm ăn mãi không hết, Aladdin được vật thần kỳ giúp đỡ, lấy được công chúa và phải đối đầu với kẻ lừa lọc từng nhận là người thân. Khác ở chỗ Thạch Sanh hiền lành từ đầu, còn Aladdin phải lớn lên qua thử thách. Bạn có thể đọc thêm soạn bài Thạch Sanh để so sánh.
Nguồn gốc truyện Aladdin và cây đèn thần
Aladdin không có trong các bản chép tay tiếng Ả Rập cổ của Nghìn lẻ một đêm mà các học giả biết đến trước thời Galland. Antoine Galland (1646–1715), nhà Đông phương học người Pháp, dịch bộ truyện ra tiếng Pháp thành nhiều tập từ năm 1704. Theo nhật ký của ông, năm 1709 tại Paris ông được nghe Hanna Diyab, một thanh niên Kitô giáo Maronite quê ở Aleppo (Syria), kể nhiều truyện, trong đó có Aladdin; Galland viết lại và in trong các tập cuối khoảng năm 1712. Vì thế giới nghiên cứu gọi Aladdin là một trong những “truyện mồ côi” của Nghìn lẻ một đêm, cùng với Alibaba và 40 tên cướp. Các bản tiếng Ả Rập về Aladdin được tìm thấy về sau đều xuất hiện muộn hơn bản in của Galland.
Truyện đặt bối cảnh ở một vương quốc bên Trung Hoa, nhưng tên người, tập tục, tôn giáo trong truyện đều mang màu sắc Trung Đông; “Trung Hoa” ở đây là miền đất xa xôi mang tính ước lệ. Tên công chúa trong bản Galland là Badroulboudour; nhiều bản tiếng Anh viết là Badroulbadour. Phim hoạt hình Disney năm 1992 đổi tên nàng thành Jasmine, thêm con khỉ Abu và chỉ giữ một thần đèn ban ba điều ước, những chi tiết không có trong nguyên tác.
Câu hỏi thường gặp
Công chúa trong truyện Aladdin gốc tên là gì?
Trong bản Galland nàng tên là Badroulboudour (bản tiếng Anh thường viết Badroulbadour), từ tiếng Ả Rập Badr al-Budur. Cái tên quen thuộc trên màn ảnh là do phim hoạt hình đặt ra, không có trong truyện gốc.
Aladdin có mấy vị thần giúp đỡ?
Hai vị: thần của chiếc nhẫn do chính pháp sư đeo cho Aladdin, và thần của cây đèn. Thần nhẫn cứu Aladdin khỏi hầm và đưa chàng sang châu Phi, còn thần đèn làm những việc lớn như xây cung điện. Không có giới hạn ba điều ước.
Truyện Aladdin có thật nằm trong Nghìn lẻ một đêm không?
Truyện thuộc bản Nghìn lẻ một đêm của Galland và các bản dịch dựa theo ông, nhưng không có trong những bản chép tay tiếng Ả Rập cổ. Trong cùng lô bài, bạn có thể đọc tiếp một truyện cổ tích châu Âu cũng xoay quanh lời hứa và phép màu: Người đẹp và quái vật.