Ước lệ tượng trưng là lối miêu tả bằng những hình ảnh đã thành quy ước chung, mang nghĩa biểu trưng, như trăng, hoa, ngọc, tuyết, mai, liễu, thay vì vẽ tỉ mỉ từng đường nét thật của người hay cảnh. Khi đề văn hỏi “bút pháp ước lệ tượng trưng là gì”, người ta muốn bạn chỉ ra cách nhà thơ dùng cái đẹp có sẵn của thiên nhiên để gợi ra con người, phổ biến nhất trong văn học trung đại.
| Khái niệm | Bút pháp dùng hình ảnh quy ước, giàu tính biểu trưng để gợi tả thay cho tả thực |
| Nghĩa của “ước lệ” | Quy ước biểu trưng trong biểu hiện nghệ thuật; cái được mọi người ngầm thống nhất với nhau |
| Thuộc | Thi pháp văn học trung đại (thơ Đường, thơ Nôm, truyện thơ, ngâm khúc) |
| Dấu hiệu nhận biết | Lấy thiên nhiên làm thước đo vẻ đẹp con người; hình ảnh lặp lại ở nhiều tác giả; ít chi tiết riêng biệt |
| Gặp nhiều ở | Chị em Thúy Kiều, Cảnh ngày xuân, chân dung Từ Hải, thơ Bà Huyện Thanh Quan |

Ước lệ tượng trưng ghép từ hai vế nào?
Cụm từ này nên tách đôi mà hiểu. Vế thứ nhất, ước lệ, được từ điển tiếng Việt giải thích là “quy ước biểu trưng trong biểu hiện nghệ thuật”. Chữ ước ở đây cùng họ với giao ước, quy ước: một điều người ta đã hẹn với nhau. Chữ lệ là lệ lối, thói quen đã thành nếp. Ghép lại, ước lệ là thứ cách nói mà người viết lẫn người đọc đều đã thuộc, không cần giải thích thêm.
Vế thứ hai, tượng trưng, là dùng một hình ảnh cụ thể để chỉ một ý trừu tượng hơn nó. Trăng thành khuôn mặt tròn đầy, tuyết thành làn da trắng, tùng, cúc, trúc, mai là khí tiết người quân tử.
Đặt hai vế cạnh nhau, ta có một bút pháp: nhà thơ không tả người con gái có đôi mắt to bao nhiêu, sống mũi cao thế nào, mà chọn trong kho hình ảnh chung những thứ đẹp nhất của trời đất để so sánh, ví von. Người đọc thời ấy thấy “làn thu thủy” là hiểu ngay đó là đôi mắt trong như nước mùa thu. Bút pháp này gắn với quan niệm thẩm mỹ trung đại: thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp, con người đẹp khi được đặt ngang với trăng hoa, mây tuyết. Muốn hiểu rộng hơn về hình ảnh mang nghĩa biểu trưng, xem bài biểu tượng trong tác phẩm văn chương.
Nguyễn Du vẽ hai chị em họ Vương bằng ước lệ
Đoạn trích tả chị em Thúy Kiều trong Truyện Kiều là ví dụ được dùng nhiều nhất khi học bút pháp này. Toàn văn đoạn trích và chú thích có trong bài đọc kỹ đoạn tả Thúy Vân, Thúy Kiều trong Truyện Kiều; cảnh thiên nhiên trong lần chơi xuân sau đó cũng được tả theo lối gợi, xem câu hỏi SGK của đoạn Cảnh ngày xuân.
Thúy Vân: trăng, hoa, ngọc, mây, tuyết
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Bốn câu thơ có tới năm hình ảnh thiên nhiên. Khuôn mặt được ví với trăng rằm, lông mày như mày con ngài, nụ cười như hoa nở, giọng nói như ngọc, tóc óng hơn mây, da trắng hơn tuyết. Ta không biết Thúy Vân cao hay thấp, mặc áo màu gì, nhưng vẫn hình dung được một vẻ đẹp phúc hậu, tròn đầy. Chi tiết đáng chú ý là thiên nhiên “thua”, “nhường”: vẻ đẹp ấy hòa hợp với trời đất, nên được thiên nhiên chịu lép. Nhiều người đọc thấy ở đó một dự báo về cuộc đời êm ả của Vân.
Thúy Kiều: chỉ một nét mà đủ
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Đến Kiều, Nguyễn Du chỉ tập trung vào đôi mắt. “Thu thủy” là nước mùa thu, “xuân sơn” là núi mùa xuân: mắt trong như làn nước thu, mày thanh như dáng núi xuân. Câu sau đổi hẳn sắc thái. Hoa không còn “thua” một cách vui vẻ mà “ghen”, liễu thì “hờn”. Thiên nhiên đố kỵ với vẻ đẹp này, và người đọc hiểu đó là tín hiệu của một số phận nhiều sóng gió. Cùng một bút pháp mà hai chân dung mang hai số phận khác nhau, đó là chỗ tài của Nguyễn Du.
Từ Hải: ước lệ cho người anh hùng
Râu hùm, hàm én, mày ngài,
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
Người anh hùng cũng được tả theo quy ước. Với Từ Hải, Nguyễn Du lấy râu hổ, hàm chim én, mày con ngài và những con số phóng đại (“năm tấc”, “mười thước”) để dựng dáng một bậc anh hùng phi thường. Không ai đi đo vai Từ Hải; con số ở đây là quy ước để nói “lớn lao hơn người thường”.
Bốn câu tự hỏi để nhận ra lối tả ước lệ
- Hình ảnh có lấy từ thiên nhiên không? Trăng, hoa, tuyết, ngọc, mây, liễu, tùng, cúc là kho hình ảnh quen của văn chương xưa.
- Hình ảnh ấy có xuất hiện ở nhiều tác giả khác không? “Mặt hoa da phấn”, “mày liễu”, “mắt phượng” gặp ở cả ca dao lẫn truyện thơ. Hình ảnh càng phổ biến thì càng mang tính ước lệ.
- Có chi tiết riêng, đo đếm được không? Nếu bài thơ không nói màu áo, vết sẹo, dáng đi cụ thể mà chỉ gợi chung, ta đang gặp ước lệ. Văn tả thực hiện đại thì ngược lại, rất chuộng chi tiết riêng.
- Bỏ hình ảnh đi, ý có còn không? Ước lệ thường gắn với so sánh, ẩn dụ ngầm. Thay “khuôn trăng” bằng “mặt tròn” thì ý còn, nhưng mất cái vẻ trang trọng, cao quý.
Lối gợi tả này gần với cách người nghệ nhân chèo, tuồng hay họa sĩ dân gian tạo dáng nhân vật theo khuôn mẫu, xem thêm bài thủ pháp cách điệu trong nghệ thuật truyền thống.
Ước lệ tượng trưng đặt cạnh tả thực
| Tiêu chí | Ước lệ tượng trưng | Tả thực |
|---|---|---|
| Chất liệu | Hình ảnh quy ước có sẵn (trăng, hoa, tuyết…) | Chi tiết quan sát được ở chính đối tượng |
| Mục đích | Gợi vẻ đẹp chuẩn mực, lý tưởng | Khắc họa cá tính, cái riêng không lẫn |
| Ví dụ | “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” | Cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn của Chí Phèo khi ra tù |
| Thời kỳ nổi bật | Văn học trung đại | Văn xuôi hiện thực từ đầu thế kỷ XX |
Ước lệ cũng dễ lẫn với điển cố. Điển cố là chuyện xưa, câu chữ trong sách cũ được gói lại thành một cụm (như “lá thắm chỉ hồng”), còn ước lệ là hình ảnh tả người tả cảnh theo quy ước. Hai thứ thường đi cùng nhau trong một bài thơ cổ; phần phân biệt chi tiết có ở bài điển tích, điển cố và cách nhận ra trong thơ cổ.
Bốn câu luyện nhận diện hình ảnh ước lệ
Câu 1: Trong câu “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”, hình ảnh ước lệ nào gợi vẻ đẹp gì?
Đáp án: Hai hình ảnh ước lệ là mai và tuyết. Cốt cách như cây mai gợi dáng người mảnh mai, thanh cao; tinh thần như tuyết gợi tâm hồn trong trắng. Câu thơ nói chung vẻ đẹp của cả hai chị em trước khi tả riêng từng người.
Câu 2: Vì sao khi tả Thúy Kiều, Nguyễn Du dùng chữ “ghen”, “hờn” mà khi tả Thúy Vân lại dùng “thua”, “nhường”?
Đáp án: “Thua”, “nhường” cho thấy thiên nhiên chấp nhận đứng sau vẻ đẹp của Vân, một sự hòa thuận. “Ghen”, “hờn” cho thấy thiên nhiên đố kỵ với Kiều. Cùng bút pháp ước lệ, nhưng hai cách đặt quan hệ người với thiên nhiên dự báo hai số phận: Vân êm đềm, Kiều truân chuyên.
Câu 3: Câu “Cô ấy có mái tóc ngắn ngang vai, nhuộm nâu, mái hơi lệch sang trái” có dùng bút pháp ước lệ không?
Đáp án: Không. Câu văn dùng chi tiết cụ thể, đo đếm được (ngắn ngang vai, nhuộm nâu, lệch trái), là lối tả thực. Nếu viết “tóc mây buông xõa” thì mới là ước lệ.
Câu 4: Viết hai câu tả một cụ già theo lối ước lệ, rồi viết lại theo lối tả thực.
Đáp án tham khảo: Ước lệ: “Cụ có mái đầu bạc như cước, dáng ngồi vững như cây tùng trước gió.” Tả thực: “Cụ còn vài sợi tóc bạc lơ thơ trên đỉnh đầu, lưng hơi còng, ngồi trên chiếc ghế tre có miếng vá ni lông xanh.” Bản ước lệ trang trọng, khái quát; bản tả thực cho ta thấy đúng một con người cụ thể.
Ước lệ tượng trưng trong đề văn và bài làm
Bút pháp ước lệ tượng trưng là gì, có khác “ước lệ” không?
Về cơ bản là một. “Ước lệ” là tính chất của hình ảnh (được quy ước), còn “bút pháp ước lệ tượng trưng” là cách nhà văn dùng những hình ảnh ấy để miêu tả. Đề văn thường viết đủ cả cụm để nhấn mạnh tính biểu trưng.
Ước lệ tượng trưng có tác dụng gì?
Nó giúp tả nhanh mà sang: vài hình ảnh đã gợi được vẻ đẹp lý tưởng, trang trọng. Nó còn cho phép nhà thơ gửi thái độ và dự báo số phận qua quan hệ giữa người với thiên nhiên, như chữ “ghen”, “hờn” ở chân dung Thúy Kiều.
Vì sao văn học trung đại chuộng lối tả ước lệ?
Văn chương xưa xem thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp và đề cao cái lý tưởng hơn cái riêng của từng người. Người viết cùng học một kho hình ảnh, điển cố chung, nên hình ảnh quy ước truyền từ đời này sang đời khác.
Hình ảnh ước lệ có làm nhân vật nhạt nhòa không?
Có nguy cơ, nếu chỉ lặp lại khuôn sáo. Nhưng ở tay Nguyễn Du, ước lệ vẫn tạo được cá tính: Vân “đoan trang” khác Kiều “sắc sảo mặn mà”. Khi viết bài, đừng chỉ gọi tên bút pháp mà hãy chỉ ra hình ảnh ước lệ ấy làm nhân vật khác người khác ở chỗ nào.