Tự mãn là tự lấy làm thỏa mãn về thành quả của bản thân, đến mức thấy không cần cố gắng thêm nữa. Hỏi “tự mãn nghĩa là gì” thì có thể đáp gọn: tưởng mình đã đủ, nên dừng lại. Người tính tự mãn thường không thiếu tài; cái họ thiếu là cảm giác mình còn phải học.
| Nghĩa ngắn | Hài lòng quá mức với thành tích của mình, thôi không phấn đấu |
| Gốc từ | Hán Việt 自滿: tự (mình) + mãn (đầy) |
| Loại từ | Tính từ; “thói tự mãn”, “sự tự mãn” là cách danh từ hóa |
| Sắc thái | Chê; thường dùng để phê bình hoặc tự nhắc mình |

Tự mãn trong từ điển: thấy đủ rồi thì thôi cố
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) xếp tự mãn vào loại tính từ, giảng là tự bằng lòng về điều mình làm được mà không cần phải cố gắng hơn nữa. Hai ví dụ đi kèm rất đời: vẻ mặt tự mãn, tự mãn với thành tích đã đạt được.
Điểm mấu chốt nằm ở vế sau. Vui vì mình làm tốt thì chẳng có gì sai. Một bạn học sinh được điểm 9 môn Toán, hớn hở khoe với mẹ, đó là niềm vui chính đáng. Nhưng nếu từ hôm ấy bạn gấp sách lại vì nghĩ “mình giỏi Toán rồi”, thì niềm vui đã chuyển thành tự mãn. Từ này không chê việc thành công; nó chê việc ngồi lì trên thành công.
Từ điển Hồ Ngọc Đức thì nhấn vào một nét hơi khác: tự cho mình là đã đầy đủ, về tiền của hay khả năng. Gộp hai cách giảng lại, ta có chân dung người tự mãn: tin mình đủ rồi, và vì tin thế nên không nhúc nhích thêm.
- Đội bóng thắng liền ba trận, bắt đầu tự mãn, và thua đậm ở trận thứ tư.
- Anh ấy nhìn bản kế hoạch với vẻ tự mãn, chẳng buồn hỏi ý ai.
- Đừng tự mãn chỉ vì bài kiểm tra đầu năm được điểm cao.
自滿: cái bình đã đầy thì không rót thêm được
Chữ tự (自) là chính mình, gặp trong tự tin, tự trọng, tự học. Chữ mãn (滿) nghĩa gốc là đầy, tràn. Thiều Chửu giảng thêm một nét rất đắt: người tự kiêu cho mình là đủ cũng gọi là mãn. Vậy tự mãn, hiểu sát chữ, là tự thấy mình đã đầy.
Hình ảnh cái bình đầy giải thích cả lý do vì sao tự mãn đáng ngại. Bình đã đầy thì rót thêm nước vào cũng tràn ra ngoài. Người thấy mình đã đủ cũng vậy: lời góp ý, kiến thức mới, kinh nghiệm của người khác đều trôi tuột. Cùng họ với chữ mãn có mãn nguyện, thỏa mãn, viên mãn, bất mãn, mãn hạn. Đáng chú ý, mãn nguyện và viên mãn mang nghĩa tốt; chỉ khi đi với chữ “tự” và hướng vào bản thân thì cái đầy mới thành tật.
Người xưa đã đúc kết điều này thành một câu trong sách Thượng Thư, thiên Đại Vũ mô: “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích” (滿招損,謙受益), nghĩa là tự mãn thì chuốc lấy thiệt hại, khiêm tốn thì được thêm lợi ích. Câu này đến nay vẫn hay được dẫn khi bàn về thói kiêu căng.
Tự mãn, tự đắc, tự cao và tự tin: đặt cạnh nhau cho rõ
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tự mãn | Thấy mình đã đủ, thôi phấn đấu | Tự mãn với giải nhì, năm sau không luyện nữa |
| Tự đắc | Tỏ ra thích thú, khoái chí với thành công, cho mình là giỏi | Mặt vênh lên tự đắc sau khi thắng |
| Tự cao | Đánh giá mình cao hơn người khác, coi thường người khác | Tự cao nên chẳng nghe ai góp ý |
| Tự tin | Tin vào khả năng của mình nhưng vẫn muốn tiến lên | Tự tin bước vào phòng thi |
| Khiêm tốn (trái nghĩa) | Không tự đề cao, luôn thấy mình còn phải học | Đạt giải vẫn khiêm tốn cảm ơn thầy cô |
Từ điển ghi tự đắc là đồng nghĩa gần của tự mãn, và hai từ hay đi chung. Tuy vậy tự đắc nghiêng về vẻ ngoài khoái chí, còn tự mãn nghiêng về chuyện dừng lại bên trong. Tự cao thì so mình với người. Ranh giới khó nhất là với tự tin: người tự tin vẫn đặt mục tiêu mới, người tự mãn thì thôi. Bài ranh giới giữa tự tin và tự cao bàn kĩ hơn khoảng cách ấy. Về phía trái nghĩa, ngoài khiêm tốn còn có cầu thị, cầu tiến, khiêm nhường; xem thêm ở bài sống khiêm nhường mà không tự ti.
Chú thỏ ngủ gật bên đường đua
Muốn thấy tự mãn trong truyện thì không đâu rõ hơn chuyện ngụ ngôn rùa và thỏ. Thỏ chạy nhanh hơn rùa gấp bội, ai cũng biết. Chính vì biết vậy, thỏ yên trí nằm nghỉ giữa đường, tin chắc mình chạy vài bước là tới đích. Rùa chậm mà không dừng. Khi thỏ choàng dậy thì rùa đã về trước. Truyện có ở bài truyện ngụ ngôn Rùa và Thỏ của chuyên mục truyện.
Câu chuyện đáng nhớ vì nó cho thấy tự mãn không làm mất tài, nó chỉ làm tài đứng yên. Tiếng Việt cũng có sẵn một thành ngữ tả đúng cảnh ấy: ngủ quên trên chiến thắng.
Gợi ý dàn ý khi viết về thói tự mãn
Đề “Suy nghĩ về thói tự mãn” hay “Bàn về câu ngủ quên trên chiến thắng” có thể đi theo bốn ý:
- Giải thích: tự mãn là thấy mình đã đủ, dừng việc học hỏi; khác với niềm vui chính đáng khi thành công.
- Biểu hiện: ngại nghe góp ý, lặp lại cách cũ, coi nhẹ đối thủ, thích nhắc lại thành tích cũ.
- Tác hại: bị người khác vượt qua; mất cơ hội sửa sai; dễ thành kiêu ngạo, làm mất lòng người xung quanh.
- Bài học: mỗi lần đạt kết quả tốt, tự đặt một mục tiêu tiếp theo; giữ thói quen hỏi “mình còn thiếu gì?”.
Bài văn mẫu về khiêm tốn và tự tin trong tuyển nghị luận đạo lí lớp 8 có thể dùng làm dẫn chứng đối lập.
Tự mãn: mấy câu hỏi hay gặp
Tính tự mãn là gì?
Là thói quen hài lòng quá mức với bản thân, lặp lại nhiều lần đến thành nếp. Người có tính tự mãn ít khi thấy mình cần học thêm, và thường khó chịu khi bị chỉ ra chỗ yếu.
Tự mãn có phải là tự tin không?
Không. Tự tin là tin vào sức mình để làm tiếp, còn tự mãn là tin rằng mình chẳng cần làm thêm. Một bên nhìn về phía trước, một bên ngồi nhìn lại thành tích cũ.
Từ trái nghĩa với tự mãn là gì?
Những từ trái với tự mãn gần nhất là khiêm tốn, khiêm nhường, cầu thị, cầu tiến. Người cầu thị luôn tìm cái đúng ở người khác để học, đó là điều người tự mãn bỏ qua.
Tự mãn tiếng Anh là gì?
Thường dịch là complacent (tính từ) và complacency (danh từ). Khi muốn nhấn vào vẻ khoái chí, tiếng Anh cũng dùng smug hoặc self-satisfied.