Lặc lè là từ gợi tả sự nặng nề, khó nhọc khi mang vác: đồ vật nặng và cồng kềnh, còn người mang thì phải gắng sức, bước chậm, người chúi về một bên. Từ này hay đi trong các cụm “nặng lặc lè”, “xách lặc lè”, “gánh lặc lè” và thuộc lớp từ khẩu ngữ, nghe là thấy ngay cái mỏi tay, mỏi vai.
| Nghĩa ngắn | Nặng nề, khó nhọc khi mang vác; dáng đi chậm vì mang nặng |
| Cấu tạo | Từ láy, hai tiếng lặp phụ âm đầu “l” |
| Loại từ | Tính từ (có từ điển xếp là phó từ), dùng sau động từ hoặc sau “nặng” |
| Sắc thái | Khẩu ngữ, gợi hình, thường kèm chút than thở hoặc thương cảm |

Lặc lè gợi ra hình ảnh gì?
Thử hình dung một bà cụ đi chợ về, tay xách hai túi gạo, mỗi bước lại phải dừng. Hoặc một cậu học sinh cõng chiếc ba lô đầy sách, vai lệch hẳn sang một bên. Cái dáng ấy, trong tiếng Việt, gói gọn trong hai chữ lặc lè.
Các từ điển tiếng Việt ghi hai nét nghĩa sát nhau. Nét thứ nhất nói về cảm giác: nặng nề, khó nhọc, như khi gánh vài chục cân gạo đã thấy oằn vai. Nét thứ hai nói về dáng người: dáng đi nặng nề, chậm chạp vì phải mang nặng. Nét nào thì cũng xoay quanh một chuyện: có một vật nặng và có một người đang chật vật với nó.
Về cấu tạo, đây là từ láy âm đầu, hai tiếng mang thanh nặng và thanh huyền, cùng một nhóm thanh như phần lớn từ láy khác (xem cách nhận ra từ láy âm đầu và láy vần). Tách riêng thì cả “lặc” lẫn “lè” đều không mang nghĩa nặng; cái nghĩa chỉ hiện ra khi hai tiếng đi liền, đúng kiểu một từ gợi hình dáng.
Những từ cùng họ với lặc lè
| Từ | Gần nghĩa ở chỗ | Khác lặc lè ở chỗ |
|---|---|---|
| Lễ mễ | Mang vác nặng, vất vả | Nhấn vào đồ đạc lỉnh kỉnh, cồng kềnh |
| Khệ nệ | Bê vật nặng, đi chậm | Hay dùng khi bê bằng hai tay ôm trước bụng |
| Nặng trĩu | Rất nặng | Tả vật trĩu xuống (cành trĩu quả), không tả dáng người đi |
| Kĩu kịt | Gánh nặng | Gợi cả tiếng đòn gánh kêu theo nhịp bước |
Trái nghĩa với lặc lè là những từ chỉ sự nhẹ nhõm: nhẹ tênh, nhẹ bẫng, tay không. “Đi chợ về lặc lè” và “đi chợ về tay không” là hai cảnh đối nhau rất rõ.
Có hai chữ hay bị lẫn với lặc lè. Lắc lư chỉ sự đưa qua đưa lại, không liên quan gì đến sức nặng. Còn lè đứng một mình lại có nghĩa riêng, như “lè lưỡi”. Viết đúng là lặc lè: chữ “lặc” có dấu nặng và phụ âm cuối “c”, chữ “lè” có dấu huyền.
Lặc lè trong câu nói hằng ngày
- Ngày khai giảng, mẹ chở theo thùng sách vở nặng lặc lè lên kí túc xá.
- Bố đi Tết quê về, hai tay xách lặc lè nào bánh chưng, nào gà, nào rau.
- Chiếc vali nhét đủ quà cho cả họ, kéo lên cầu thang mà nghe lặc lè.
- Cô bé lặc lè ôm chậu cây ra ban công, không chịu để ai bê hộ.
- Mùa thu hoạch, người làng lặc lè gánh lúa qua bờ ruộng.
Để ý vị trí của từ: lặc lè có thể đứng sau “nặng” để nói mức độ (nặng lặc lè), đứng sau động từ để nói cách làm (xách lặc lè), hoặc đứng trước động từ để tả dáng người (lặc lè gánh lúa). Câu văn tả người lao động, tả cảnh đi chợ, tả ngày nhập học dùng từ này rất được việc, vì chỉ một chữ đã cho người đọc thấy cả sức nặng lẫn sự cố gắng.
Một lưu ý nhỏ: lặc lè tả sức nặng có thật, cầm được, gánh được. Nói “nỗi buồn lặc lè” nghe gượng; với cảm xúc nặng nề, tiếng Việt quen dùng trĩu nặng hay nặng trĩu hơn.
Lặc lè ở chợ, ở bến xe và trên vai học trò
Nặng lặc lè là gì?
Là nặng đến mức mang vác phải gắng sức, đi không nổi nhanh. “Nặng lặc lè” mạnh hơn “nặng” một bậc, và thường kèm hình ảnh người đang xách, gánh, bê vật đó.
Lặc lè là từ láy hay từ ghép?
Là từ láy. Hai tiếng giống nhau ở phụ âm đầu “l”, và không tiếng nào đứng riêng mang được nghĩa “nặng”, nên không thể coi là từ ghép.
Lặc lè dùng cho người hay cho đồ vật?
Cả hai. Nói về đồ vật thì nhấn sức nặng (cái túi nặng lặc lè); nói về người thì tả dáng mang vác khó nhọc (bà cụ lặc lè xách giỏ). Dù dùng kiểu nào, trong câu vẫn luôn có một vật nặng.
Lặc lè có phải từ địa phương không?
Không. Từ này có mặt trong các từ điển tiếng Việt phổ thông, chủ yếu dùng trong lời nói và văn miêu tả. Trong văn bản hành chính, nên thay bằng “nặng”, “cồng kềnh”.