Từ đồng nghĩa với mẹ là má, mạ, u, bu, bầm, me, mợ, mế. Mỗi từ là tiếng gọi của một vùng, một thời; viết trang trọng có thân mẫu, mẫu thân. Mẹ không có từ trái nghĩa: bố (cha) cùng cặp với mẹ nhưng chỉ khác giới, còn con là vế còn lại của quan hệ mẹ con.
| Đồng nghĩa | má, mạ, u, bu, bầm, me, mợ, mế; trang trọng: thân mẫu, mẫu thân |
| Trái nghĩa | không có (bố, con không phải từ trái nghĩa) |
| Loại từ | danh từ chỉ quan hệ trong gia đình, dùng cả để xưng gọi |
| Nghĩa | người phụ nữ có con, trong quan hệ với con; một tiếng gọi quê được kể kỹ ở bài về tiếng gọi bầm ơi |

Má, mạ, u, bầm: tiếng gọi mẹ ở mỗi nơi
| Từ | Vùng, thời | Ghi chú |
|---|---|---|
| má | phương ngữ, quen thuộc ở miền Nam | ba má, tía má |
| mạ | phương ngữ, hay nghe ở miền Trung | thường chỉ dùng để xưng gọi |
| u | từ cũ, một số vùng nông thôn | đi đôi với thầy: thầy u |
| bu | phương ngữ | con chào bu; thầy bu |
| bầm | một số vùng miền Bắc | vào thơ qua bài “Bầm ơi” của Tố Hữu |
| me | từ cũ, lớp người thành thị (Hà Nội thời Pháp thuộc) | nay hầu như không dùng |
| mợ | từ cũ, gia đình khá giả thời trước | đi đôi với cậu: cậu mợ |
| mế | cách gọi của một số dân tộc thiểu số ở miền Bắc | bà mế người Mường |
| thân mẫu, mẫu thân | từ cũ, trang trọng | tiểu sử, văn tế; không dùng để tự xưng |
Nạ là chữ cổ, còn trong tục ngữ “Quen việc nhà nạ, lạ việc nhà chồng”. Mệ có trong danh sách của từ điển, nhưng ở Huế mệ thường là bà, nên bài không tính.
Ca dao Nam Bộ:
Má ơi đừng đánh con đau,
Để con hát bội làm đào má coi.
Gà mẹ, Mẹ Việt Nam anh hùng: chỗ không đổi sang má, u
- “Mẹ em bán rau” → “Má em bán rau”: được, chỉ đổi giọng.
- “Thân mẫu của nhà thơ quê ở Nam Định” → “Mẹ của nhà thơ…”: được, bớt trang trọng.
- “Lãi mẹ đẻ lãi con”: không thay, vì mẹ ở đây là cái gốc sinh ra cái khác.
- “Mẹ Việt Nam anh hùng” là danh hiệu, không đổi.
- “Con thưa thân mẫu”: gượng, thân mẫu không dùng để xưng gọi.
Lưu ý từ đồng âm: má (gò má), mạ (lúa non), u (khối u), me (quả me).
Mẹ đẻ, mẹ kế, bố: không cặp nào là trái nghĩa
Trái nghĩa đòi hai đầu ngược nhau trên một thước đo, như nóng và lạnh. Bố và mẹ chỉ khác giới; mẹ và con là hai vế của một quan hệ; mẹ đẻ, mẹ nuôi, mẹ kế là các kiểu mẹ. Tiêu chí đầy đủ có ở bài giải thích từ trái nghĩa.
Phía người cha cũng có cả loạt tiếng gọi theo vùng, từ ba, tía đến bọ, thầy, được gom lại ở bài đồng nghĩa, trái nghĩa với bố.
Câu mẫu với mẹ, má, mạ, u, bầm
- Tối nào mẹ cũng đợi cả nhà ăn cơm.
- Má ơi, con về rồi nè!
- Mạ dặn con mang áo mưa theo.
- Ngày nhỏ ông vẫn gọi thầy u.
- Anh lính viết thư về cho bầm.
- Thân mẫu của cụ mất năm cụ lên mười.
Ca dao quen thuộc:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Thêm nhiều câu khác trong tuyển ca dao, tục ngữ về cha mẹ và những bài thơ ngắn viết về mẹ.
Thắc mắc về các tiếng gọi mẹ
Từ đồng nghĩa với từ mẹ gồm những từ nào?
Má, mạ, u, bu, bầm, me, mợ, mế; văn trang trọng có thân mẫu, mẫu thân. Đây là kiểu đồng nghĩa khác vùng, xem thêm ở bài phân loại từ đồng nghĩa.
Mạ là cách gọi mẹ ở đâu?
Hay nghe ở miền Trung; miền Nam nói má.
Trái nghĩa với mẹ là bố đúng không?
Không đúng. Bố và mẹ là cặp theo giới, không phải trái nghĩa.
Các từ đồng nghĩa với mẹ có dùng cho con vật được không?
Thường là không; từ điển chỉ ghi nghĩa này cho chữ mẹ: gà mẹ, bò mẹ.