Bầm là từ có hai nghĩa thường gặp: một là danh từ địa phương có nghĩa là mẹ, như tiếng gọi trong bài thơ “Bầm ơi” của Tố Hữu; hai là tính từ chỉ màu tím thâm, hoặc chỗ da thâm tím, hơi sưng sau khi bị va đập (vết bầm, bầm tím). Hai nghĩa đọc và viết y hệt nhau nhưng không liên quan, nên muốn biết bầm nghĩa là gì phải nhìn câu chứa nó.
| Nghĩa 1 | Mẹ (từ địa phương, giọng thân mật của làng quê) |
| Nghĩa 2 | Tím thâm, sẫm màu; da thâm tím và hơi sưng do va đập |
| Loại từ | Nghĩa 1: danh từ, đại từ xưng gọi; nghĩa 2: tính từ |
| Hay đi cùng | bầm ơi; vết bầm, tím bầm, nâu bầm, bầm dập |

Tiếng gọi “bầm ơi” của người lính
Phần lớn học sinh gặp chữ bầm lần đầu trong bài thơ “Bầm ơi” của Tố Hữu, in trong tập Việt Bắc và được chọn làm bài tập đọc ở sách Tiếng Việt lớp 5. Người con đi kháng chiến, gặp chiều mưa phùn gió bấc thì nhớ dáng mẹ lội ruộng cấy lúa ở quê. Cả bài gọi mẹ bằng một chữ “bầm”, lặp đi lặp lại như tiếng gọi của người con xa nhà. Hai câu được nhắc nhiều nhất:
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.
Chữ “bầm” ở đây làm câu thơ mộc mạc như lời người nông dân nói với nhau. Nếu đổi thành “đời mẹ sáu mươi”, ý vẫn còn mà cái chất làng quê mất đi một nửa. Có thể đọc lại toàn bộ bài và phần trả lời câu hỏi ở bài tập đọc Bầm ơi lớp 5.
Bầm là mẹ, bầm cũng là thâm tím
Ở nghĩa thứ nhất, bầm là một trong nhiều cách gọi mẹ theo địa phương. Từ toàn dân là “mẹ”; bên cạnh đó có “u”, “bu”, “bầm” ở nhiều vùng quê miền Bắc, “mạ” ở miền Trung, “má” ở miền Nam. Bầm mang sắc thái thân thuộc, dân dã. Người ta có thể gọi thẳng “bầm ơi” hoặc xưng hô trong câu kể: “Bầm em đi chợ từ sớm”.
Ở nghĩa thứ hai, bầm là tính từ chỉ màu. Màu bầm là tím sẫm hoặc nâu thâm, không tươi: tà áo nâu bầm, đôi môi tím bầm vì rét. Từ đó có “vết bầm”, tức chỗ da đổi màu xanh tím sau khi bị va đập, do các mạch máu nhỏ dưới da bị vỡ khiến máu tụ lại. Vết bầm thường nhạt dần qua các màu tím, xanh, vàng rồi biến mất; nếu vết bầm lớn, rất đau hoặc tự xuất hiện không rõ lý do thì nên đi khám bác sĩ.
Vì cùng âm mà nghĩa chẳng dính gì nhau, hai chữ bầm là ví dụ dễ nhớ cho hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt. Câu “Bầm bị bầm tay vì ngã” nghe hơi buồn cười nhưng hoàn toàn đúng ngữ pháp.
Đặt bầm cạnh u, bu, mạ và chữ băm
| Từ | Quan hệ với bầm | Ghi chú |
|---|---|---|
| mẹ, u, bu, má, mạ | Đồng nghĩa với nghĩa 1 | Khác nhau ở vùng miền và sắc thái |
| thâm, tím bầm, thâm tím | Gần nghĩa với nghĩa 2 | “Thâm” rộng hơn, dùng cả cho quầng mắt, vết ố |
| bầm dập | Mở rộng từ nghĩa 2 | Bị thương nhiều chỗ; nghĩa bóng: chịu nhiều vất vả, tổn thương |
| tươi, hồng hào | Trái nghĩa với nghĩa 2 | Nói về màu da, màu môi |
| băm | Dễ nhầm khi nói nhanh | Băm là chặt nhỏ: băm thịt, băm rau |
Lỗi bầm/băm thường gặp ở người nói ngọng vần hoặc gõ vội. “Băm” là động từ chặt nhỏ, như trong bài Nghệ thuật băm thịt gà của Ngô Tất Tố; “bầm” không bao giờ là hành động dùng dao.
Đọc kỹ bài thơ của Tố Hữu còn thấy một chi tiết thú vị. Ở câu “Mạ non bầm cấy mấy đon”, chữ “mạ” là cây lúa non đem cấy, không phải tiếng gọi mẹ của người miền Trung. Trong cùng một dòng thơ, “bầm” là mẹ còn “mạ” là lúa.
Bầm chỉ là một trong cả chục tiếng gọi mẹ; má, mạ, u, bu, mế được xếp theo vùng ở bài đồng nghĩa, trái nghĩa với mẹ.
Bầm ơi, vết bầm và bầm dập
Bầm ơi nghĩa là gì?
Là tiếng gọi “mẹ ơi” theo cách nói của một số vùng quê. Cụm từ này nổi tiếng nhờ bài thơ cùng tên của Tố Hữu, nơi người lính gọi mẹ từ nơi chiến trường xa.
Vết bầm là gì?
Là vùng da đổi màu xanh tím, có khi hơi sưng, xuất hiện sau va đập. Màu tím là do máu từ các mạch nhỏ bị vỡ đọng lại dưới da, rồi tan dần trong vài ngày đến vài tuần.
Bầm là tiếng địa phương vùng nào?
Bầm thường được xếp vào lớp từ địa phương miền Bắc, gắn với đời sống làng quê. Bài “Bầm ơi” được nhiều tài liệu cho là viết khi Tố Hữu đi công tác ở vùng trung du Phú Thọ, nhưng chữ bầm không phải của riêng một tỉnh nào.
Bầm dập nghĩa là gì?
Nghĩa đen là bị thương, thâm tím nhiều chỗ. Nghĩa bóng chỉ người đã trải qua nhiều khó khăn, mất mát: “một tuổi thơ bầm dập”.