Từ đồng nghĩa với chết chia theo sắc thái: trang trọng có qua đời, từ trần, tạ thế; nói giảm có mất, khuất; chết vì nghĩa lớn là hi sinh; vua chết là băng hà, nhà sư chết là viên tịch. Từ trái nghĩa với chết là sống; ngoài ra còn đối với mất, sinh đối với tử.
| Đồng nghĩa | qua đời, từ trần, tạ thế, mất, khuất, hi sinh (vì nghĩa), băng hà (vua), viên tịch (nhà sư) |
| Trái nghĩa | sống; còn (đối với mất); sinh (trong cặp sinh – tử) |
| Nghĩa | không còn sống nữa; các nghĩa phụ (máy chết, chết đứng) tách riêng ở cuối bài |

Các từ nói về cái chết, xếp theo sắc thái
Chết là từ trung tính, dùng cho cả người, con vật, cây cỏ. Nói về người thân, người đáng kính thì chuyển sang lời nhẹ hơn theo lối nói giảm nói tránh.
| Sắc thái | Từ | Dùng khi nào |
|---|---|---|
| Trang trọng | qua đời, từ trần, tạ thế | cáo phó, tin buồn; từ trần hay dành cho người có tuổi |
| Nói giảm, thương tiếc | mất, khuất | lời nói trong gia đình: bố mẹ mất sớm |
| Vì nghĩa lớn | hi sinh | chết vì đất nước, vì nhiệm vụ, lí tưởng |
| Dành riêng cho vua | băng hà, thăng hà | văn sử; từ cũ |
| Tôn giáo | viên tịch, tịch | hòa thượng, sư cụ trong đạo Phật |
| Trung tính, mô tả | tắt thở, tử vong | bệnh án, tin tức, văn bản hành chính |
| Thông tục, hàm ý khinh hoặc đùa | toi, ngoẻo, ngỏm, chầu trời, bỏ mạng | chuyện phiếm; không dùng khi nói về người đã khuất |
Hi sinh hay bị dùng cho mọi cái chết, trong khi từ điển chỉ ghi nghĩa chết vì đất nước, nghĩa vụ, lí tưởng.
Riêng hi sinh còn có nghĩa nhận thiệt thòi về mình, và mỗi nghĩa có nhóm từ thay thế riêng, xem đồng nghĩa, trái nghĩa với hi sinh.
Sống, còn, sinh: phía bên kia của chết
- sống: cặp trái nghĩa từ điển ghi sẵn, như trong tục ngữ “Chết vinh còn hơn sống nhục”. Nghĩa khác của từ này có ở bài chữ sống trong tiếng Việt.
- còn: đối với mất trong lời nói giảm. “Ông bà cháu còn cả chứ?” – “Ông còn, bà mất rồi.”
- sinh: đối với chết theo hai đầu một đời người, như trong cặp Hán Việt sinh – tử.
Hồi sinh, sống lại không phải trái nghĩa: đó là chết rồi sống trở lại.
Ở chiều danh từ, cái chết hay được đặt đối với cuộc sống; giới hạn của cặp đối ấy được giải thích trong đồng nghĩa, trái nghĩa với cuộc sống.
Đổi chết sang qua đời, mất: câu nào hợp, câu nào lạc giọng
- “Ông nội em chết năm em lên ba” → “Ông nội em mất…”: nên đổi, nghe kính trọng hơn.
- “Cây cam chết khô vì hạn” → không đổi sang qua đời hay mất, hai từ ấy chỉ dành cho người.
- “Ba người chết trong vụ cháy” → “Ba người thiệt mạng trong vụ cháy”: được; viết “hi sinh” thì sai nghĩa.
Máy chết, chết đứng, chết thật: khi chết không nói về sự sống
- Máy chết (đồng hồ chết, xe chết máy): ngừng hoạt động; gần với hỏng, tắt.
- Chết màu, xi măng chết: đã biến chất, hết tác dụng.
- Chết đứng (khẩu ngữ): lặng người vì quá bất ngờ, gần với sững sờ.
- Chán chết, cười chết: chết làm phụ từ, nghĩa là đến mức rất cao.
- Chết thật!: tiếng thốt khi lo, sửng sốt; gần với thôi chết.
Đặt câu có chết và những từ cùng nhóm
- Thiếu nước mấy hôm, chậu hoa ngoài ban công đã chết.
- Bà ngoại mất khi tôi mới học lớp hai.
- Cụ từ trần ở tuổi chín mươi.
- Các chiến sĩ đã hi sinh để giữ từng tấc đất biên giới.
- Phật tử về chùa tiễn đưa sư cụ đã viên tịch.
- Con mèo ngã từ mái nhà xuống nhưng vẫn còn sống.
Hỏi nhanh về những từ thay cho chết
Từ đồng nghĩa với từ chết là những từ nào?
Qua đời, từ trần, tạ thế, mất, khuất; riêng từng trường hợp có hi sinh, băng hà, viên tịch.
Hi sinh có đồng nghĩa hoàn toàn với chết không?
Không. Hi sinh thêm nét “vì nghĩa lớn”, thuộc kiểu đồng nghĩa không hoàn toàn.
Trái nghĩa với chết là gì?
Là sống. Với lối nói mất thì từ đối lại là còn.