Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ chọn lời lẽ mềm mại, khéo léo khi phải nhắc tới chuyện đau buồn, đáng sợ hoặc khó nghe, để người nghe bớt nặng lòng và câu nói giữ được phép lịch sự. Nói “ông cụ đã từ trần” thay cho “ông cụ chết”, hay “bài này chưa được tốt” thay cho “bài này dở” đều là nói giảm nói tránh. Dưới đây là cách thực hiện, tác dụng, ví dụ trong thơ văn và bài tập.
| Nghĩa ngắn | Nói nhẹ đi, nói tránh đi một điều khó nói thẳng |
| Thuộc | Biện pháp tu từ từ vựng, học ở Ngữ văn 7–8 |
| Dấu hiệu nhận biết | Một từ, cụm từ “mềm” đứng thay cho từ nặng nề, đau buồn hoặc thô |
| Ngược với | Nói quá (phóng đại mức độ) |
| Ví dụ quen | Từ trần, qua đời, khiếm thính, chưa ngoan, có tuổi |

Sách Ngữ văn hiểu nói giảm nói tránh thế nào?
Sách Ngữ văn 8 chương trình cũ dành riêng một bài cho phép tu từ này. Phần ghi nhớ của sách nêu hai lí do để nói tránh: một là để người nghe khỏi bị nỗi buồn, nỗi sợ đè nặng; hai là để lời nói khỏi thô, khỏi mất lịch sự. Muốn vậy, người nói phải chọn lời mềm và khéo.
Sách mới vẫn giữ nội dung này. Bộ Kết nối tri thức đưa nói giảm nói tránh vào phần thực hành tiếng Việt của Ngữ văn 7, và đề ôn tập các lớp trên vẫn thường hỏi. Bảng ôn nhanh có trong phần ôn tiếng Việt kì một lớp 7 sách Kết nối.
Điểm cần nhớ: nói giảm nói tránh không làm sai sự thật. Người nghe vẫn hiểu đúng chuyện gì xảy ra, chỉ là lời nói được “bọc” mềm hơn. Nếu cách nói làm người nghe hiểu sai bản chất, đó là nói dối hoặc né tránh trách nhiệm, không còn là tu từ.
Giới ngôn ngữ học gọi những từ mềm dùng thay cho từ thô hay từ gây đau lòng là uyển ngữ, tiếng Anh là euphemism, và hai khái niệm này không hoàn toàn trùng nhau.
Năm cách tạo ra một câu nói giảm nói tránh
- Dùng từ Hán Việt đồng nghĩa. Từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, nghe bớt trần trụi: từ trần, tạ thế, hi sinh thay cho chết; thi hài thay cho xác; khiếm thị, khiếm thính thay cho mù, điếc.
- Dùng cách nói chuyển nghĩa. Gọi cái chết bằng một hình ảnh: đi xa, yên nghỉ, về với tổ tiên, nhắm mắt xuôi tay. Cách này mượn ẩn dụ, hoán dụ nên thường gặp trong thơ.
- Phủ định từ trái nghĩa. Thay vì nói thẳng mặt tiêu cực, phủ định mặt tích cực: “bạn hát chưa hay lắm” thay cho “bạn hát dở”; “căn phòng không được sạch” thay cho “căn phòng bẩn”.
- Nói vòng. Diễn đạt bằng một cụm dài hơn để khỏi gọi tên điều khó nói: “người không còn trẻ nữa” thay cho “người già”; “em cần cố gắng thêm ở môn Toán” thay cho “em học Toán kém”.
- Tỉnh lược. Bỏ hẳn phần khó nói, để người nghe tự hiểu: “Ông ấy… thôi rồi“; “Nghe tin ấy, cả nhà lặng đi”. Chỗ bị bỏ lửng chính là chỗ đau.
Nhiều câu dùng cùng lúc hai cách. “Cụ đã đi xa từ tháng trước” vừa chuyển nghĩa vừa nhẹ hơn hẳn chữ “chết”.
Nói tránh để làm gì: ba tác dụng chính
Giảm nỗi đau. Đây là trường hợp phổ biến nhất, gắn với cái chết, bệnh tật, mất mát. Bác sĩ báo tin cho người nhà, thầy cô viết lời chia buồn, đều chọn từ ngữ nhẹ để người nghe đủ sức đón nhận.
Giữ lịch sự. Những bộ phận cơ thể, việc vệ sinh cá nhân hay khiếm khuyết của người khác được gọi bằng từ trang nhã. Gọi một bạn “khiếm thính” là tôn trọng bạn ấy.
Góp ý mà không làm tổn thương. Lời nhận xét kiểu “bài văn còn vài chỗ chưa mạch lạc” giúp người nghe dễ nhận lỗi hơn “bài văn lộn xộn”. Người được góp ý không thấy bị chê bai, nên chịu sửa.
Cũng có lúc không nên nói giảm. Báo cáo sự cố, khai trình với cơ quan chức năng, cảnh báo nguy hiểm cần nói đúng mức. “Hơi nguy hiểm” thay cho “rất nguy hiểm” ở biển cảnh báo có thể khiến người khác gặp nạn.
Nói giảm nói tránh trong thơ Nguyễn Khuyến, Tố Hữu và Quang Dũng
Ví dụ được nhắc nhiều nhất là câu mở đầu bài Khóc Dương Khuê, Nguyễn Khuyến viết khi hay tin bạn già qua đời:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhà thơ không nói chữ “chết”. Cụm thôi đã thôi rồi, với chữ thôi lặp hai lần, vừa báo tin vừa như một tiếng thở dài bất lực. Cuối bài, cái chết còn được gọi bằng hình ảnh lên tiên, nhẹ như một chuyến đi. Toàn văn bài thơ có trong bài thơ khóc bạn của Nguyễn Khuyến kèm phần soạn.
Tố Hữu viết bài Bác ơi! ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mất năm 1969. Câu thơ “Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!” dùng chữ đi thay cho cái chết. Câu thơ ở dạng hỏi, như người viết chưa muốn tin, nên chữ đi càng làm nỗi đau lặng hơn.
Trong Tây Tiến, Quang Dũng nói về sự hi sinh của người lính bằng hình ảnh “về đất”: người lính nằm xuống được gọi như trở về với đất mẹ. Cách nói ấy làm cái chết bớt bi thương, thêm phần trang trọng, hào hùng.
Nói giảm nói tránh khác nói quá ở đâu?
Hai phép tu từ này đi ngược chiều nhau về mức độ, nên đề trắc nghiệm hay đặt chúng cạnh nhau.
| Tiêu chí | Nói giảm nói tránh | Nói quá |
|---|---|---|
| Hướng tác động | Làm nhẹ đi, mềm đi | Phóng đại lên |
| Mục đích | Bớt đau buồn, giữ lịch sự, góp ý tế nhị | Nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm |
| Ví dụ | Cụ đã yên nghỉ. | Mệt đứt hơi; cười vỡ bụng. |
| Hay gặp ở | Lời chia buồn, lời nhận xét, thơ viếng | Ca dao, lời nói đùa, văn trào phúng |
Mẹo phân biệt: hỏi “câu này làm sự việc nghe nhẹ hơn hay nặng hơn thực tế?”. Nhẹ hơn là nói giảm, nặng hơn là nói quá. Hai phép này cùng các phép so sánh, nhân hóa, ẩn dụ… được hệ thống trong bài tổng hợp các phép tu từ và cách nêu tác dụng.
Luyện nhận diện nói giảm nói tránh
Câu 1: Tìm từ ngữ nói giảm nói tránh trong câu: “Sau trận ốm dài, bà cụ đã ra đi vào một sáng mùa đông.”
Đáp án: Cụm đã ra đi thay cho “đã chết”. Cách nói chuyển nghĩa này làm câu văn bớt nặng nề, thể hiện sự kính trọng và thương tiếc với người đã mất.
Câu 2: Viết lại câu sau theo cách nói giảm nói tránh: “Bạn vẽ xấu quá.”
Đáp án gợi ý: “Bức tranh của bạn chưa được đẹp lắm” (phủ định từ trái nghĩa) hoặc “Bạn cần luyện thêm phần phối màu” (nói vòng). Cả hai giữ đúng ý nhận xét mà không làm bạn mất hứng.
Câu 3: Câu “Nghe tin con đỗ đại học, mẹ mừng đến rơi nước mắt” có phải nói giảm nói tránh không?
Đáp án: Không. Câu này kể đúng mức niềm vui, không có từ nào thay cho một điều khó nói. Nếu viết “mừng muốn bay lên trời” thì lại là nói quá.
Câu 4: Trong câu “Ông tôi đã có tuổi nên đi lại chậm”, từ nào là nói giảm nói tránh? Tác dụng?
Đáp án: Có tuổi thay cho “già”. Cách nói này lịch sự, tôn trọng người lớn tuổi, hợp với lời con cháu nói về ông bà.
Thắc mắc thường gặp khi học biện pháp nói giảm nói tránh
Biện pháp nói giảm nói tránh là gì, nói ngắn để nhớ?
Là cách nói nhẹ đi, nói tránh đi những điều đau buồn, nặng nề hay thô tục, để lời nói tế nhị và lịch sự hơn.
Tác dụng của nói giảm nói tránh khi làm bài đọc hiểu nên viết thế nào?
Viết theo ba ý: gọi tên từ ngữ được dùng và từ nó thay thế; nêu tác dụng chung (giảm đau buồn hoặc giữ lịch sự); nêu tình cảm của người viết (tiếc thương, kính trọng, tế nhị). Ví dụ: “Cụm ‘đi xa’ thay cho ‘chết’, giảm nỗi đau mất mát, thể hiện lòng kính trọng”.
Ví dụ về nói giảm nói tránh trong đời sống có những gì?
Rất nhiều: “qua đời”, “khiếm thị”, “người cao tuổi”, “đi vệ sinh”, “chưa ngoan”, “thu nhập chưa cao” thay cho “nghèo”. Phần lớn đã quen tới mức người nói không nhận ra mình đang dùng tu từ.
Nói giảm nói tránh có phải là nói dối không?
Không. Người nghe vẫn hiểu đúng sự thật, chỉ có cách nói nhẹ nhàng hơn. Nếu lời nói làm người khác hiểu sai, ví dụ giấu một nguy hiểm thật, thì đó không còn là nói giảm nói tránh.