Thiếu phụ Nam Xương là một trong những truyện cổ tích Việt Nam nổi bật, phản ánh sâu sắc nỗi đau và sự hy sinh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Câu chuyện không chỉ mang tính nhân văn mà còn chứa đựng những bài học quý giá về tình yêu và lòng trung thủy.
Ở huyện Nam Xương tỉnh Hà Nam, miền Bắc, ngày xưa có một người con gái xinh đẹp, nết na, tên là Vũ Thị Thiết, chồng là Trương Sinh, người cùng làng. Hai vợ chồng rất yêu nhau, tuy trong cảnh túng thiếu nhưng hai người không bao giờ có lời qua tiếng lại. Chỉ có một điều là Trương Sinh hay đa nghi, làm cho vợ lúc nào cũng phải ý tứ, giữ gìn.
Lấy nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh bị gọi đi lính canh giữ bờ cõi nước nhà. Lúc ấy, vợ chàng có thai sắp đến ngày sinh. Trương Sinh đi chưa được nửa tháng thì nàng sinh được đứa con trai rất kháu khỉnh. Một nách con mọn, lại có mẹ chồng già, nàng thay chồng làm đủ mọi việc. Mẹ chồng ốm nặng, nàng hết sức chạy chữa trong nửa năm trời, nhưng bà cụ không qua khỏi được. Nàng làm ma cho mẹ chồng rất chu tất, xóm làng ai cũng khen.
Hơn một năm sau, quân lính đều được trở về làng. Trương Sinh về thì đứa con trai đã bập bẹ nói. Trương giơ tay bế con thì thằng bé không chịu theo. Anh hỏi nó:
– Bố đây mà, sao con lại không cho bế?
Thằng bé bập bẹ nói:
– Bố đến tối mới đến kia.
Trương Sinh tính đa nghi, trong lòng bực tức, nhưng không nói ra. Đợi khi đứa bé ngồi một mình, chàng gạn hỏi thì thằng bé lại nói:
– Đến tối, bố mới đến. Hễ mẹ đi, bố cũng đi theo sau; mẹ ngồi, bố cũng ngồi…
Nghe con nói, Trương Sinh yên trí vợ mình đã tằng tịu với một kẻ nào trong khi mình đi vắng và kẻ ấy rất say mê vợ mình, nên mới không rời được ra như thế! Thấy vợ xinh đẹp, tươi giòn, “gái một con trông mòn con mắt”, máu ghen của chàng lại càng xung lên. Trương tra hỏi vợ và giữ kín là không phải do con nói. Nàng một mực chối cãi; nhưng chàng không tin, mắng chửi, đánh đập vợ tàn nhẫn. Làng xóm, họ hàng biết chuyện đều đến can ngăn, chàng nhất định không nghe, cho là vợ khéo đon đả cái mồm, nên mới được lòng mọi người. Người thiếu phụ phẫn uất quá, ôm con khóc nức nở, rồi thừa lúc chồng sang hàng xóm, chị đặt con xuống giường, chạy ra sông đâm đầu xuống dòng nước chảy xiết. Chồng về, biết sự chẳng lành, vội chạy ra sông, nhưng mò mãi không tìm thấy xác vợ.
Đến tối đứa trẻ khóc, Trương bế con, thắp đèn dỗ cho nó nín. Thốt nhiên đứa trẻ chỉ vào cái bóng của Trương trên vách và nói:
– Bố kia kìa!
Thì ra trong những ngày Trương đi vắng, buổi tối đứa trẻ hay hỏi mẹ: “Bố đâu?”, người thiếu phụ thường chỉ vào cái bóng của mình trên vách, nói đùa với con: “Bố kia kìa!”. Bấy giờ người chồng mới hiểu lời con nói, chàng lạnh toát người, nhận ra ngay tất cả sự lầm lẫn ghê gớm của mình đã giết mất người vợ chung thủy.

Qua hôm sau, người chồng bế con ra bờ sông khóc lóc thảm thiết, rồi lập đàn cầu siêu cho người vợ chết oan. Để tạ tội với vợ, người chồng thề nhất quyết sống một mình cho đến chết, lo nuôi con học hành thành đạt. Về sau, dân làng dựng miếu thờ nàng họ Vũ, gọi là: “Miếu vợ chàng Trương”. Đến đời hậu Lê, Vua Lê Thái Tôn có dịp đi ngang qua, thấy cái miếu và nghe kể về câu chuyện thương tâm đó bèn ứng khẩu một bài thơ truyền đến ngày nay:
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu nhắn đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.
Ý nghĩa truyện Thiếu phụ Nam Xương
Bi kịch từ một cái bóng
Người vợ chỉ đùa với con, chỉ cái bóng của mình trên vách mà bảo là bố. Lời con trẻ ngây thơ, cộng với tính đa nghi sẵn có của Trương Sinh, biến trò đùa thành bằng chứng ngoại tình. Truyện cho thấy một chi tiết nhỏ trong sinh hoạt gia đình có thể dẫn tới cái chết nếu người trong cuộc không chịu lắng nghe nhau.
Người phụ nữ không được tự bào chữa
Nàng một mực chối cãi, xóm làng họ hàng đến can, nhưng chồng “nhất định không nghe”. Trong xã hội cũ, lời người vợ không có trọng lượng trước sự ghen tuông của chồng; con đường minh oan duy nhất nàng nghĩ ra là gieo mình xuống sông. Đó là lời tố cáo nhẹ nhàng mà thấm thía của dân gian về thân phận người phụ nữ.
Hối hận muộn màng
Khi đứa trẻ chỉ vào bóng Trương trên vách, sự thật hiện ra trong một câu nói. Trương lập đàn giải oan, thề ở vậy nuôi con, dân làng lập miếu thờ nàng. Bài thơ cuối truyện trách “chàng Trương khéo phũ phàng”, như thay lời người đời phán xét.
Thiếu phụ Nam Xương và Chuyện người con gái Nam Xương
Câu chuyện dân gian về vợ chàng Trương là chất liệu để Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) viết “Chuyện người con gái Nam Xương” trong tập Truyền kỳ mạn lục. Bản của Nguyễn Dữ giữ cốt truyện chiếc bóng nhưng thêm phần sau: Vũ Nương được các nàng tiên dưới thủy cung cứu, gặp Phan Lang người cùng làng, rồi hiện về giữa dòng sông trong đàn giải oan và từ biệt chồng con mãi mãi. Bản dân gian trên trang kết thúc sớm hơn, ở ngôi miếu “vợ chàng Trương” và bài thơ đề miếu.
Chuyện người con gái Nam Xương trong sách giáo khoa
- Ngữ văn 9, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, tập một, Bài 1 “Thế giới kì ảo”.
- Ngữ văn 9, bộ Chân trời sáng tạo, tập một, Bài 4 “Con người trong thế giới kì ảo”.
- Ngữ văn 9, bộ Cánh diều, tập hai, Bài 6 “Truyện truyền kì và truyện trinh thám”.
Xem Soạn bài Chuyện người con gái Nam Xương, tóm tắt và tác giả – tác phẩm và bài phân tích chi tiết cái bóng.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao người vợ chàng Trương phải chết?
Vì Trương Sinh nghe lời con nhỏ nói “bố đến tối mới đến”, tin vợ ngoại tình, đánh đập mắng chửi; nàng không minh oan được nên gieo mình xuống sông.
Thiếu phụ Nam Xương khác gì Chuyện người con gái Nam Xương?
Thiếu phụ Nam Xương là bản truyện dân gian, kết thúc ở việc lập miếu thờ; Chuyện người con gái Nam Xương là truyện truyền kỳ của Nguyễn Dữ, thêm phần Vũ Nương sống dưới thủy cung và hiện về trên sông.