Tri giác là quá trình tâm lí giúp con người nhận ra trọn vẹn một sự vật, hiện tượng đang tác động vào các giác quan: không chỉ thấy màu đỏ, ngửi mùi thơm, mà biết ngay “đây là bông hồng”. Tri giác ghép những cảm giác rời rạc thành một hình ảnh có ý nghĩa. Trong tiếng Anh, tri giác là perception.
| Nghĩa ngắn | Nhận biết trọn vẹn sự vật khi nó tác động trực tiếp vào giác quan |
| Gốc từ | Hán Việt 知覺: tri (biết) + giác (cảm thấy, nhận ra) |
| Loại từ | Danh từ (thuật ngữ tâm lí học); cũng dùng như động từ: “tri giác sự vật” |
| Vị trí | Thuộc nhận thức cảm tính, cao hơn cảm giác, thấp hơn tư duy |

Tri giác trong giáo trình tâm lí học
Các giáo trình tâm lí học đại cương xếp tri giác vào nhóm hoạt động nhận thức, cùng với cảm giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng. Định nghĩa thường gặp: tri giác là quá trình phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan.
Có hai chữ cần để ý trong định nghĩa ấy. Trọn vẹn: tri giác cho ta cả quả cam, chứ không phải một mảng màu cam cộng một mùi chua cộng một cảm giác sần sùi. Trực tiếp: sự vật phải đang có mặt trước giác quan; nhắm mắt nhớ lại quả cam hôm qua thì đã là trí nhớ, tưởng tượng, không còn là tri giác.
Từ điển tâm lí học tiếng Anh giảng perception theo hướng tương tự: quá trình hoặc kết quả của việc nhận biết, tổ chức và hiểu thông tin từ các giác quan. Nghĩa là não không ghi lại thế giới như máy ảnh; nó luôn sắp xếp và diễn giải.
Tri giác diễn ra thế nào trong một ngày bình thường?
Phần lớn thời gian ta không biết mình đang tri giác, vì quá trình ấy diễn ra gần như tức thì. Vài tình huống quen thuộc cho thấy nó làm việc ra sao:
- Nghe tiếng chuông điện thoại trong lớp ồn, bạn vẫn nhận ra đó là máy của mình. Tai nghe nhiều âm thanh, nhưng tri giác chọn ra âm thanh có ý nghĩa với bạn.
- Nhìn chữ viết tay hơi xấu, bạn vẫn đọc được vì não tự điền nét thiếu dựa trên những chữ đã quen.
- Một chiếc xe buýt ở cuối phố trông nhỏ xíu, nhưng bạn không nghĩ nó là đồ chơi. Tri giác giữ cho kích thước, hình dạng của sự vật ổn định dù khoảng cách thay đổi.
- Đọc một câu thơ, mắt chỉ thấy các con chữ, nhưng ta nhận ra ngay hình ảnh, nhịp điệu. Tri giác luôn gắn với ý nghĩa, với vốn hiểu biết sẵn có.
Các giáo trình gọi những đặc điểm trên là quy luật của tri giác: tính đối tượng, tính lựa chọn, tính có ý nghĩa, tính ổn định. Thêm một quy luật nữa là tổng giác: tri giác của mỗi người phụ thuộc vào nội dung đời sống tâm lí của chính người ấy, như kinh nghiệm, nhu cầu, tâm trạng.
Vì sao hai người nhìn cùng một vật lại thấy khác nhau?
Tri giác phụ thuộc vào vật được nhìn, nhưng cũng phụ thuộc vào người nhìn, và đây là điều thú vị nhất của khái niệm này.
Kinh nghiệm và nghề nghiệp. Đứng trước một thửa ruộng, người nông dân thấy lúa sắp trổ, họa sĩ thấy những mảng xanh vàng, người buôn đất thấy giá tiền. Cùng một hình ảnh trên võng mạc, ba cách tri giác.
Nhu cầu và tâm trạng. Lúc đói, đi qua phố ta để ý hàng quán nhiều hơn hẳn. Lúc buồn, cơn mưa nghe như tiếng khóc; lúc vui, cũng cơn mưa ấy nghe thật mát. Người xưa có câu “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” trong Truyện Kiều, nói đúng chuyện này.
Sự chú ý. Khi đang mải tìm một người bạn áo xanh giữa sân trường, ta có thể không thấy cả một nhóm bạn khác vừa vẫy tay.
Bối cảnh xung quanh. Hình ảnh nổi tiếng về ảo giác Müller-Lyer cho thấy hai đoạn thẳng dài bằng nhau, chỉ khác hướng của hai đầu mũi tên, mà mắt ta vẫn thấy một đoạn dài hơn. Biết là bằng nhau mà vẫn thấy khác: tri giác có lúc đi trước cả hiểu biết.
Vì phụ thuộc vào người tri giác như vậy, nên khi tranh luận, hiểu rằng người kia có thể “thấy” khác mình là bước đầu của sự tôn trọng. Bài giải nghĩa chữ nhận thức đi tiếp từ chỗ này sang những tầng hiểu biết sâu hơn.
Cảm giác, tri giác và tư duy: ba bậc thang
| Mức | Phản ánh cái gì | Ví dụ với một quả cam |
|---|---|---|
| Cảm giác | Từng thuộc tính riêng lẻ: màu, mùi, độ cứng | Màu cam, mùi thơm, vỏ sần |
| Tri giác | Sự vật trọn vẹn đang có mặt trước giác quan | Nhận ra: đây là quả cam |
| Tư duy | Bản chất, quy luật, mối liên hệ không thấy trực tiếp | Cam nhiều vitamin C; vì sao cam chín ngả màu |
Cảm giác và tri giác hợp thành nhận thức cảm tính, tức biết bằng giác quan. Tư duy là nhận thức lí tính, đi xa hơn cái đang nhìn thấy. Muốn xem bậc thang cuối, có bài tư duy và những đặc điểm của nó.
Thầy bói xem voi: bài học về tri giác thiếu trọn vẹn
Truyện ngụ ngôn quen thuộc kể năm ông thầy bói mù chung tiền xem voi. Ông sờ vòi bảo voi như con đỉa, ông sờ ngà bảo như cái đòn càn, ông sờ tai bảo như cái quạt thóc, ông sờ chân bảo như cái cột đình, ông sờ đuôi bảo như cái chổi sể. Rồi năm ông cãi nhau đến đánh nhau.
Đặt cạnh tâm lí học, câu chuyện là một ví dụ rất rõ: mỗi ông chỉ có cảm giác về một bộ phận, rồi tự cho đó là tri giác về cả con voi. Thiếu cái nhìn trọn vẹn, lại không chịu nghe người khác, nên ai cũng đúng một phần mà sai cả tổng thể. Bài truyện ngụ ngôn Thầy bói xem voi có toàn văn và phần ý nghĩa.
Tri giác qua những câu hỏi ngắn
Tri giác là gì trong tâm lý học?
Là quá trình nhận thức phản ánh trọn vẹn các thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào giác quan. Nó đứng trên cảm giác và là cơ sở cho tư duy.
Ví dụ về tri giác trong đời sống là gì?
Nghe giọng nói qua điện thoại và nhận ra ngay đó là mẹ; nhìn một dáng đi từ xa và biết là bạn thân; nếm một thìa canh và biết thiếu muối. Mỗi lần nhận ra một sự vật quen như thế là một lần tri giác.
Tri giác khác cảm giác như thế nào?
Cảm giác chỉ báo từng thuộc tính đơn lẻ, như màu đỏ hay vị ngọt. Tri giác gom các thuộc tính ấy lại thành một sự vật có tên, có ý nghĩa, như quả dâu tây.
Có những loại tri giác nào?
Theo giác quan giữ vai trò chính, có tri giác nhìn, nghe, sờ mó, ngửi, nếm. Theo đối tượng, giáo trình thường nêu tri giác không gian (hình dạng, độ lớn, khoảng cách), tri giác thời gian, tri giác vận động và tri giác con người.