Tình yêu là thứ tình cảm gắn bó tha thiết khiến người ta muốn gần gũi, chăm lo và sẵn lòng chịu trách nhiệm với một người, một nơi chốn hay một điều mình trân quý. Hỏi “tình yêu là gì?”, phần đông nghĩ ngay tới chuyện đôi lứa, nhưng từ điển xếp nghĩa rộng lên trước: thương cha mẹ, gắn với quê nhà cũng là tình yêu. Còn “yêu là gì” thì gọn hơn: yêu là động từ chỉ chính cái tình ấy khi nó đang diễn ra.
| Nghĩa ngắn | Tình cảm gắn bó sâu nặng, muốn gần gũi và có trách nhiệm với người hoặc vật mình yêu |
| Loại từ | “Tình yêu” là danh từ; “yêu” chủ yếu là động từ |
| Các nét nghĩa | Tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống |
| Từ Hán Việt tương ứng | Ái tình (愛情), chữ ái nghĩa là yêu |

Từ điển giảng chữ yêu và chữ tình yêu thế nào?
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) tách hai mục riêng.
Yêu là gì?
Ở vai động từ, yêu có hai nét. Nét thứ nhất rộng: thấy dễ chịu khi ở gần một đối tượng, muốn gần gũi và sẵn sàng hết lòng vì đối tượng ấy, như trong yêu nước, cha mẹ yêu con, đứa bé trông đáng yêu. Nét thứ hai hẹp hơn: dành riêng cho một người thứ tình cảm thắm thiết, mong được chung sống và gắn bó cả đời, như trong thầm yêu trộm nhớ. Trái nghĩa với yêu là ghét; gần nghĩa nhất là thương.
Chữ yêu còn đứng sau động từ để làm nhẹ một hành động vốn nặng: trách yêu, cốc yêu, lườm yêu. Ngoài ra có chữ yêu đồng âm là danh từ, chỉ loài ma quái hại người (yêu tinh, yêu quái), không dính gì tới tình cảm.
Tình yêu khác chữ yêu ở đâu?
Tình yêu là danh từ, gọi tên cái tình mà động từ yêu diễn tả. Từ điển cũng ghi hai nghĩa: một là tình cảm yêu mến làm người ta gắn bó mật thiết và thấy mình có trách nhiệm với người, với vật (tình yêu đất nước, tình yêu cuộc sống); hai là tình yêu đôi lứa (chuyện tình yêu, bày tỏ tình yêu). Chữ “trách nhiệm” nằm ngay trong định nghĩa: yêu mà không muốn gánh vác gì thì mới chỉ là thích.
- Lá thư cuối năm của mẹ viết vụng về mà đầy tình yêu.
- Hai người yêu nhau từ năm cuối cấp, giờ vẫn nhắn nhau mỗi tối.
Tình yêu trong lời ca dao và câu thơ Việt
Ca dao ít khi nói thẳng chữ yêu. Người xưa chuộng chữ thương, và gửi nỗi nhớ vào đồ vật quen thuộc. Bài ca dao trong chương trình Ngữ văn 10 cũ mở đầu bằng chiếc khăn:
Khăn thương nhớ ai,
Khăn rơi xuống đất?
Khăn thương nhớ ai,
Khăn vắt lên vai?
Cô gái không nói “em nhớ anh” mà hỏi chiếc khăn, rồi cái đèn, đôi mắt; nỗi nhớ dâng lên qua từng câu hỏi lặp lại. Lối yêu kín đáo ấy còn trong nhiều câu của tuyển ca dao nói về nghĩa vợ chồng.
Sang thơ mới, tình yêu thành đề tài được nói to. Xuân Diệu mở bài “Yêu” (tập Thơ thơ, 1938) bằng một định nghĩa nghe rất buồn:
Yêu, là chết ở trong lòng một ít,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?
Tình yêu được đặt cạnh nỗi sợ không được đáp lại. Muốn đọc thêm giọng “ông hoàng thơ tình”, có tuyển những bài thơ tình của Xuân Diệu.
Ba mươi năm sau, Xuân Quỳnh viết “Sóng” (1967) và để người phụ nữ tự nói về lòng mình:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Chỉ hai cặp tính từ trái nhau mà gói được cái thất thường của trái tim đang yêu. Chính bà cũng có một chuyện tình được kể lại nhiều lần, xem chuyện tình Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ.
Ba cạnh của tam giác tình yêu theo Sternberg
Tâm lý học thì thử chia tình yêu thành phần. Cách chia hay được dẫn nhất là thuyết tam giác của nhà tâm lý học Mỹ Robert Sternberg, công bố năm 1986 trên tạp chí Psychological Review. Ông cho rằng tình yêu được dựng từ ba thành phần:
- Thân mật (intimacy): cảm giác gần gũi, hiểu nhau, có thể kể cho nhau nghe mọi chuyện.
- Đam mê (passion): sự rung động, hấp dẫn, muốn ở cạnh nhau.
- Cam kết (commitment): quyết định yêu người ấy và giữ mối quan hệ lâu dài.
Thiếu cam kết, Sternberg gọi là tình yêu lãng mạn; thiếu đam mê là kiểu tình bạn đời của những cặp sống cùng nhau đã lâu. Đủ cả ba cạnh mới là tình yêu trọn vẹn. Đam mê thường lên nhanh rồi lắng xuống, còn sự thân mật phải vun mỗi ngày.
Thương, thích, say nắng: phân biệt các chữ quanh tình yêu
| Nhóm | Từ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Đồng nghĩa | ái tình, tình ái, yêu đương, thương yêu | “Ái tình” mang màu văn chương cũ; “yêu đương” thường chỉ chuyện đôi lứa |
| Gần nghĩa | thương, mến, quý | “Thương” ấm và rộng, phổ biến ở Nam Bộ; “mến”, “quý” nhẹ hơn yêu |
| Trái nghĩa | ghét, thù hận, thờ ơ | Thờ ơ là trái nghĩa theo kiểu “không còn quan tâm” |
| Dễ lẫn | thích, say nắng, chiếm hữu | Xem dưới |
Thích dừng ở cảm giác dễ chịu: thích một người vì họ vui tính, đẹp, nói chuyện hợp. Say nắng là cái thích bất chợt, mạnh mà mau tan. Tình yêu bắt đầu khi mình muốn người kia được tốt, kể cả lúc điều tốt ấy không có mình trong đó. Còn chiếm hữu thì hay đội lốt tình yêu: kiểm tra điện thoại, cấm gặp bạn bè, giận dỗi để buộc người kia nghe theo. Những biểu hiện này được bàn kỹ trong bài về các dấu hiệu cờ đỏ khi hẹn hò.
Từ nào thay được tình yêu trong văn viết, từ nào chỉ gần nghĩa, và đâu là phía ngược lại, được xếp theo từng nghĩa ở đồng nghĩa, trái nghĩa với tình yêu.
Gợi ý ý cho đề nghị luận về tình yêu tuổi học trò
Đề nghị luận về tình yêu ở trường phổ thông hay xoay quanh tình yêu tuổi học trò hoặc ý “yêu thương không phải là chiếm hữu”. Dàn ý gợi ý:
- Giải thích: dựa vào nghĩa từ điển, tình yêu là gắn bó và trách nhiệm, không chỉ là rung động.
- Mặt đẹp: tình cảm trong sáng khiến người ta biết quan tâm, muốn tốt lên vì nhau.
- Mặt cần cân nhắc: yêu vội, yêu “cho bằng bạn bằng bè”, để tình cảm lấn át việc học.
- Bài học: tôn trọng ranh giới của nhau, biết dừng lại đúng lúc; chia tay cũng là chuyện của sự trưởng thành (có thể nhắc cách người trẻ bước tiếp sau một cuộc chia tay).
Mẫu “Yêu thương không phải là chiếm hữu” trong bộ văn mẫu nghị luận tư tưởng đạo lí lớp 11 là một cách viết hoàn chỉnh từ ý thứ tư.
Tình yêu qua những câu hỏi thường gặp
Tình yêu là gì theo cách nói đơn giản nhất?
Là khi mình quý một người (hay một nơi, một việc) đến mức muốn gần, muốn chăm lo và chịu trách nhiệm cho họ. Tình yêu đôi lứa chỉ là một nhánh; tình yêu gia đình, quê hương cũng được gọi bằng đúng chữ ấy.
Tình yêu đích thực là gì?
Không có định nghĩa chung cho mọi người. Mượn mô hình của Sternberg thì đó là tình yêu đủ cả ba cạnh của tam giác, được hai người cùng giữ bền qua năm tháng.
Tình yêu trong tiếng Anh và tiếng Hán Việt gọi là gì?
Tiếng Anh dùng love cho cả động từ yêu lẫn danh từ tình yêu. Hán Việt có ái tình (愛情), trong đó ái là yêu, tình là tình cảm; chữ ái cũng có trong ái mộ, ái quốc.