Tình mẫu tử là tình cảm gắn bó máu thịt giữa mẹ và con, trước hết là tình thương của người mẹ dành cho đứa con mình sinh ra, nuôi lớn. Hỏi “mẫu tử là gì” thì câu trả lời gọn nhất là: mẫu tử nghĩa là mẹ con. Cặp từ đi đôi với nó là tình phụ tử, tức tình cha con.
| Nghĩa ngắn | Tình cảm giữa mẹ và con, nhất là tình thương mẹ dành cho con |
| Gốc từ | Hán Việt 母子: mẫu (mẹ) + tử (con) |
| Loại từ | Cụm danh từ; “mẫu tử” là danh từ, ít khi dùng một mình |
| Sắc thái | Trang trọng, văn chương; hay đi với “thiêng liêng”, “bao la” |
| Cặp từ | Tình phụ tử (cha con), tình phu thê (vợ chồng), tình huynh đệ (anh em) |

Chữ “mẫu tử” trong tình mẫu tử
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng mẫu tử là danh từ, chỉ mẹ con xét về quan hệ máu mủ, và đưa luôn ví dụ “tình mẫu tử thiêng liêng”. Nói cách khác, bản thân chữ mẫu tử chỉ gọi tên mối quan hệ. Phần “tình” mới là thứ người ta muốn nói tới: sự chăm chút, lo lắng, hi sinh mà mẹ dành cho con, và cả lòng biết ơn con dành lại cho mẹ.
Trong lời nói hằng ngày, gần như không ai bảo “hai người ấy là mẫu tử”. Người ta nói “mẹ con”. Mẫu tử chỉ sống khỏe trong vài cụm cố định như tình mẫu tử, đức mẫu tử, hoặc trong tên riêng.
Ví dụ dùng từ:
- Bức ảnh người mẹ che mưa cho con trên đường về khiến nhiều người nghĩ đến tình mẫu tử.
- Đề văn yêu cầu viết đoạn nghị luận khoảng 200 chữ về tình mẫu tử.
母 và 子: chữ mẹ, chữ con trong Hán Việt
Chữ mẫu (母) nghĩa là mẹ. Nó có mặt trong khá nhiều từ quen: phụ mẫu (cha mẹ), mẫu thân, mẫu hệ, tiếng mẹ đẻ mà sách cũ gọi là mẫu ngữ. Cần để ý: mẫu trong mẫu mực, mẫu hàng là một chữ khác (模), chỉ khuôn mẫu, không dính gì đến mẹ.
Chữ tử (子) nghĩa là con. Ta gặp nó trong tử tôn (con cháu), hiếu tử (người con có hiếu), thiên tử (con trời). Chữ này cũng là một chữ tử khác hẳn với tử là chết (死) trong tử vong; đọc giống nhau nhưng viết và nghĩa khác nhau.
Ghép lại, mẫu tử là “mẹ con”. Đổi chữ đầu thành phụ (父, cha) ta có phụ tử, tức cha con. Từ điển cũng ghi phụ tử là từ cũ, mang màu văn chương. Ngoài ra còn một phụ tử đồng âm là tên một vị thuốc đông y chế từ củ một loài cây có độc, viết bằng chữ khác (附子); khi đọc gặp từ này trong sách thuốc thì đừng hiểu là cha con.
Tình mẫu tử, tình phụ tử và những từ hay bị lẫn
| Cụm từ | Chỉ quan hệ | Thường đi với |
|---|---|---|
| Tình mẫu tử | Mẹ và con | thiêng liêng, bao la, ấm áp |
| Tình phụ tử | Cha và con | lặng lẽ, nghiêm khắc mà sâu nặng |
| Tình cốt nhục | Người ruột thịt nói chung (xương thịt) | tình cốt nhục không thể cắt đứt |
| Chữ hiếu | Bổn phận, lòng biết ơn của con với cha mẹ | hiếu thảo, báo hiếu |
Tình mẫu tử và chữ hiếu hay bị gộp làm một trong bài văn, nhưng hướng của chúng ngược nhau. Tình mẫu tử xuất phát từ mẹ, đi xuống con; chữ hiếu xuất phát từ con, đi ngược lên cha mẹ. Một bài viết tốt thường nói được cả hai chiều. Từ gần nghĩa có tình mẹ, lòng mẹ, tình mẹ con. Không có từ trái nghĩa đúng nghĩa; khi muốn nói điều ngược lại, người ta dùng cách diễn đạt như “bỏ rơi con”, “ruồng rẫy con”. Mẹ, cha và con cái hợp thành tế bào nhỏ nhất của xã hội, phần này có ở bài khái niệm gia đình theo từ điển và luật.
Ca dao, truyện cổ và trang sách nói về mẹ
Văn học dân gian nhắc công cha nghĩa mẹ bằng những hình ảnh rất lớn. Câu ca dao được học sinh thuộc lòng từ lớp dưới:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Cha ví với núi cao, mẹ ví với dòng nước không bao giờ cạn. Bài ca dao này có vài dị bản, có bản thay “nước trong nguồn” bằng hình ảnh khác. Nhiều câu cùng chủ đề được gom và giải nghĩa ở trang những câu ca dao về tình mẹ có giải nghĩa. Ở Khánh Hòa có ngọn núi mà dân gian thấy như dáng mẹ đứng cạnh con thơ, gắn với một câu chuyện cổ kể trong truyện Sự tích núi Mẫu Tử; tên núi chính là hai chữ mẫu tử.
Trong sách Ngữ văn, tình mẫu tử là sợi chỉ chạy qua nhiều văn bản. Bé Hồng của Nguyên Hồng chạy theo xe, ngã vào lòng mẹ sau bao ngày xa cách; có thể đọc thêm bài phân tích đoạn trích Trong lòng mẹ. Em bé trong bài thơ của Ta-go từ chối lời rủ rê của mây, của sóng để ở nhà với mẹ, phần hỏi đáp có trong soạn bài thơ Mây và sóng. Nếu cần dẫn chứng về người cha, có thể tìm ở những bài thơ viết về người cha.
Viết về tình mẫu tử trong bài nghị luận: bốn ý nên có
Đề “Suy nghĩ về tình mẫu tử” xuất hiện từ lớp 7 tới đề thi vào lớp 10. Học sinh hay sa vào kể lể cảm xúc. Muốn bài chắc, có thể đi theo bốn ý:
- Giải thích: mẫu tử là mẹ con; tình mẫu tử là tình cảm máu thịt, trước hết là tình thương vô điều kiện của mẹ với con.
- Biểu hiện: mẹ mang nặng đẻ đau, thức khuya chăm con ốm, nhịn phần ngon cho con, vẫn bênh con khi cả thế giới quay lưng. Nên lấy một chi tiết cụ thể của chính mình, dù nhỏ.
- Ý nghĩa: đó là chỗ dựa đầu đời, dạy đứa trẻ biết thương người. Người lớn lên trong tình mẹ thường biết cách yêu thương người khác.
- Mở rộng và bài học: phê phán những người con vô tâm, coi sự hi sinh của mẹ là đương nhiên; nhắc cả những trường hợp hiếm hoi người mẹ bỏ rơi con, để thấy tình mẫu tử cũng cần được vun đắp. Kết lại bằng việc làm cụ thể, không chỉ lời hứa.
Mấy điều học trò hay thắc mắc về tình mẹ con
Tình mẫu tử nghĩa là gì, giải thích ngắn gọn thế nào?
Tình mẫu tử là tình cảm giữa mẹ và con, chủ yếu là tình thương, sự chăm sóc và hi sinh của mẹ dành cho con. Trong bài văn có thể viết một câu: “Mẫu tử là mẹ con; tình mẫu tử là tình yêu thương máu thịt giữa mẹ và con.”
Tình phụ tử là gì?
Là tình cảm giữa cha và con. “Phụ” (父) nghĩa là cha, “tử” (子) là con. Tình phụ tử thường được miêu tả là lặng lẽ, ít lời hơn tình mẹ nhưng không kém phần sâu nặng.
Mẫu tử là gì khi đứng một mình?
Mẫu tử chỉ có nghĩa là mẹ con, xét về quan hệ huyết thống. Từ này ít khi đứng một mình trong câu nói thường ngày; người ta chủ yếu gặp nó trong cụm “tình mẫu tử” hoặc trong tên riêng như núi Mẫu Tử.
Tình mẫu tử tiếng Anh là gì?
Cách nói phổ biến là maternal love hoặc a mother’s love; nói về mối gắn bó giữa hai mẹ con thì có mother-child bond. Tình phụ tử tương ứng là paternal love hay a father’s love.