Ông đi thi gần ba mươi năm, trượt đến mức tự giễu mình “bốn khoá Hương thi không đậu cả”, rồi một mạch đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội, Đình. Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), tên thật Nguyễn Thắng, hiệu Quế Sơn, người đời gọi là Tam nguyên Yên Đổ, là nhà thơ lớn cuối thế kỷ XIX, tác giả chùm thơ thu (Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm), Bạn đến chơi nhà, Khóc Dương Khuê và nhiều bài thơ trào phúng.
Sinh ở làng Ngòi, lớn lên ở làng Và

| Tên thật | Nguyễn Thắng (có tài liệu ghi Nguyễn Văn Thắng), sau đổi là Nguyễn Khuyến |
| Tự, hiệu | Tự Miễn Chi, hiệu Quế Sơn; người đời gọi Tam nguyên Yên Đổ |
| Năm sinh – năm mất | 15/2/1835 (18 tháng Giêng năm Ất Mùi) – 5/2/1909 (rằm tháng Giêng năm Kỷ Dậu) |
| Nơi sinh | Quê ngoại: làng Văn Khế (làng Ngòi), huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định |
| Quê quán | Quê nội: làng Vị Hạ (làng Và), xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) |
| Học vị | Giải nguyên (1864), Hội nguyên và Đình nguyên, đỗ Hoàng giáp (1871) |
| Tác phẩm tiêu biểu | Quế Sơn thi tập, Yên Đổ tam nguyên quốc âm thi tập; Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm, Bạn đến chơi nhà, Khóc Dương Khuê, Tiến sĩ giấy |
| Trong SGK | Thu điếu (Ngữ văn 8), Bạn đến chơi nhà (Ngữ văn 8), Khóc Dương Khuê (Ngữ văn 9), Câu cá mùa thu (Ngữ văn 10) |
Nhiều trang ghi quê ông là Nam Định. Thật ra Văn Khế ở Ý Yên chỉ là quê mẹ, nơi ông chào đời; quê nội, nơi ông lớn lên, sống phần lớn đời mình và nằm lại, là làng Vị Hạ thuộc xã Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam. Hai chữ Yên Đổ trong biệt danh Tam nguyên Yên Đổ là lấy từ đó. Theo cổng thông tin tỉnh Hà Nam, họ nội ông gốc ở vùng Treo Vọt, Can Lộc (Hà Tĩnh), di cư ra Yên Đổ từ khoảng năm trăm năm trước.
Ông sinh và mất cùng trong tháng Giêng: sinh ngày 18 tháng Giêng năm Ất Mùi, mất đúng rằm tháng Giêng năm Kỷ Dậu.
Chín khóa lều chõng và cái tên Khuyến
Cha ông là một nhà nho đỗ ba khóa tú tài, làm nghề dạy học (Wikipedia ghi tên Nguyễn Tông Khởi, tư liệu của tỉnh Hà Nam ghi Nguyễn Liễn); mẹ là bà Trần Thị Thoan, con một nhà nho ở Văn Khế. Nhà nghèo, ông học với cha. Cha mất năm 1853, gánh nặng gia đình đè lên vai cậu học trò mười tám tuổi.
Ông đi thi Hương nhiều khoa mà không đỗ. Tiểu sử trên cổng thông tin tỉnh Hà Nam chép câu thơ ông tự trào:
Bốn khoá Hương thi không đậu cả,
Một mảnh vườn hoang bán sạch rồi.
Theo cổng thông tin tỉnh Hà Nam, ông được người bạn Vũ Văn Báo giúp đỡ, theo học Tiến sĩ Vũ Văn Lý, tính ra gần ba mươi năm đèn sách và chín khóa lều chõng. Năm 1864, ông đỗ đầu thi Hương trường Hà Nội. Năm sau vào kinh thi Hội lại trượt, ông vào học Quốc Tử Giám và đổi tên Thắng (勝) thành Khuyến (勸). Wikipedia và Znews cùng giải thích: chữ Thắng có bộ lực (sức) nhỏ, chữ Khuyến có bộ lực lớn hơn, tên mới là lời tự nhắc phải gắng sức nhiều hơn.
Tam nguyên Yên Đổ: ba lần đỗ đầu
Năm 1871, ở tuổi ba mươi bảy, ông đỗ đầu cả thi Hội (Hội nguyên) lẫn thi Đình (Đình nguyên), đỗ Hoàng giáp. Cộng với Giải nguyên năm 1864, ông thành người đỗ đầu cả ba kỳ thi, tức Tam nguyên. Theo tư liệu của tỉnh Hà Nam, dưới triều Nguyễn đến lúc ấy mới có hai người đỗ Tam nguyên là Trần Bích San và Nguyễn Khuyến.
Mười năm làm quan, từ Thanh Hóa đến Huế
| Năm | Chức vụ |
|---|---|
| Sau 1871 | Sử quán ở Huế |
| 1873 | Đốc học, rồi Án sát Thanh Hóa |
| 1874 – 1877 | Về cư tang mẹ |
| 1877 | Bố chính Quảng Ngãi |
| Khoảng 1878 – 1883 | Toản tu Quốc sử quán ở Huế (Wikipedia ghi là bị giáng chức) |
| 1883 | Được cử Phó sứ sang nhà Thanh nhưng chuyến đi bị bãi; cuối năm được cử Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, không nhận |
| 1884 | Cáo quan, về ở hẳn Yên Đổ |
Ông làm quan trong những năm triều Nguyễn chống đỡ cuộc xâm lược của Pháp và lần lượt mất đất. Hai chi tiết năm 1883 (Phó sứ, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên) chỉ thấy trong tư liệu của tỉnh Hà Nam. Năm 1884, khoảng năm mươi tuổi, ông cáo quan về quê và từ đó không ra làm việc cho chính quyền thực dân.
Hai mươi lăm năm ở Yên Đổ
Một phần tư thế kỷ cuối đời ông sống ở làng Và, giữa ao chuôm, ruộng trũng của đồng chiêm Bình Lục. Đó cũng là quãng ông viết nhiều và hay nhất: thơ về cảnh quê, về người nông dân nghèo, về bạn bè, và những bài châm biếm thói đời, chuyện quan trường, khoa cử rởm. Người bạn tri kỷ của ông là Dương Khuê (1839 – 1902), đỗ tiến sĩ, làm quan to; Znews kể lại một chuyện từ sách Tấm gương hiếu học rằng khi ông đỗ thủ khoa thi Hương, chính Dương Khuê đi tìm ông. Khi bạn mất năm 1902, ông viết bài Khóc Dương Khuê theo thể song thất lục bát.
Nhà thờ Nguyễn Khuyến ở thôn Vị Hạ được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1991; theo Wikipedia tiếng Anh, ở đó còn bức hoành vua ban, bài văn mừng của Dương Khuê và chiếc giường gỗ ông nằm những năm cuối đời.
Ao thu, bạn già và tiếng cười
Thơ ông còn lại trong Quế Sơn thi tập (cả chữ Hán và chữ Nôm) và Yên Đổ tam nguyên quốc âm thi tập; một bản in năm 1925 mang tên Tam nguyên Yên Đổ thi ca. Wikipedia ghi chừng 200 bài chữ Hán và 100 bài chữ Nôm, nhưng con số ấy chưa có nguồn đối chiếu; còn con số “hơn 800 tác phẩm” thỉnh thoảng được nhắc tới thì không có căn cứ. Có bài ông viết bằng chữ Hán rồi tự chuyển ra Nôm, hoặc ngược lại.
Chùm thơ thu là phần được nhắc nhiều nhất. Mở đầu Thu điếu là một cái ao nhỏ quen thuộc của làng quê Bắc Bộ:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Bạn đến chơi nhà thì đùa với cảnh nghèo: bạn lâu ngày mới đến mà chợ xa, ao sâu, vườn rộng, cái gì cũng có mà không dùng được, để rồi kết bằng câu “bác đến chơi đây, ta với ta”. Mảng trào phúng có Tiến sĩ giấy, chế giễu cái danh khoa bảng rỗng, và những bài như Vịnh tiến sĩ, Ông phỗng đá, Hội Tây. Giọng thơ vừa trữ tình vừa trào phúng ấy được phân tích riêng ở bài phong cách sáng tác của Nguyễn Khuyến; các bài thơ khác có trong tuyển tập thơ Nguyễn Khuyến.
Thu điếu, Bạn đến chơi nhà, Khóc Dương Khuê trong chương trình Ngữ văn 8 – 10
Ở chương trình 2018, thơ Nguyễn Khuyến có mặt ở ba khối lớp, và ngay cả một bài nghị luận viết về ông cũng thành bài học:
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Thu điếu | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1, Bài 2 (Vẻ đẹp cổ điển) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Cảm nhận |
| Bạn đến chơi nhà | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 2, Bài 10 (Thơ trào phúng) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Phân tích |
| Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam (Xuân Diệu viết về chùm thơ thu) | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 2, Bài 8 | Soạn bài · Xuân Diệu nhận xét về Nguyễn Khuyến |
| Khóc Dương Khuê | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 1, Bài 1 | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Phân tích |
| Câu cá mùa thu (Thu điếu) | Ngữ văn 10 Cánh diều, tập 1, Bài 2 (đọc mở rộng) | Phân tích · Mở bài · Kết bài |
Nhan đề đoạn trích của Xuân Diệu, in từ cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập II, 1982), cũng là cách gọi gọn nhất về ông: nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam. Các bài Thu vịnh, Thu ẩm, Tiến sĩ giấy thường xuất hiện trong đề đọc hiểu ngoài sách: phân tích Thu vịnh, phân tích Thu ẩm, phân tích Tiến sĩ giấy.
Muốn so sánh, có thể đọc thêm về người cùng thời với ông ở đất Nam Định là Tú Xương, người đi thi tám khoa chỉ đỗ tú tài, cũng làm thơ trào phúng nhưng với giọng gay gắt hơn nhiều.