Bài thơ Hội Tây mang đến những cảm xúc sâu lắng về tình yêu và cuộc sống. Qua từng câu chữ, tác giả khắc họa vẻ đẹp của tâm hồn con người. Độc giả sẽ cảm nhận được sự giao thoa giữa hiện thực và mộng mơ.
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo:
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!
Bài thơ Hội Tây mang đến những hình ảnh sống động về cuộc sống và tình yêu. Tác giả khéo léo thể hiện tâm tư, tình cảm qua từng câu chữ, tạo nên sự đồng cảm sâu sắc. Nội dung bài thơ không chỉ phản ánh vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn chạm đến những cảm xúc chân thành trong lòng người đọc.
Chưa chắc bắc kỳ nghĩa là gì? Phần giải nghĩa riêng đi từ định nghĩa đến ví dụ cụ thể.
Hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa
Hội Tây là tên dân gian gọi lễ kỷ niệm Quốc khánh Pháp 14 tháng 7, do chính quyền thực dân tổ chức hằng năm. Theo ghi chép của bác sĩ quân y Pháp Hocquard, hội đầu tiên ở Bắc Kỳ diễn ra tại Nam Định năm 1884; Nguyễn Khuyến, người cùng năm ấy cáo quan về Yên Đổ (Hà Nam), được cho là đã chứng kiến hội này và viết bài thơ Nôm trên.
Bài thơ theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Sáu câu đầu tả hội: pháo reo, cờ kéo, đèn treo, bà quan “tênh nghếch” xem bơi trải, thằng bé “lom khom” nghé hát chèo, các chị nhún đu, các anh leo cột mỡ vì tham tiền. Phép đối ở hai cặp thực, luận cho thấy từ quan đến dân đều bị cuốn vào trò vui do người ngoài bày ra. Hai câu kết bật lên giọng mỉa mai: chữ “nhục” đặt cuối bài lật ngược không khí “thăng bình” giả tạo ở câu mở đầu.
Bài thơ thường được dùng làm ngữ liệu đọc hiểu thơ trào phúng ở lớp 8. Khi làm bài, nên chỉ ra không khí “thăng bình” ở câu mở đầu chỉ là bày đặt, đúng nghĩa giả tạo: không thật mà làm ra cho giống thật.