Mở bài Câu cá mùa thu là phần mở đầu bài nghị luận về bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn Khuyến, văn bản học ở Bài 2 sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức (tập 1) với tên Thu điếu và đọc mở rộng ở Bài 2 sách Ngữ văn 10 Cánh diều (tập 1). Bài thơ vẽ nên mùa thu làng quê trong trẻo, tĩnh lặng và gửi gắm tâm sự thời thế của nhà thơ. Dưới đây là 14 mẫu mở bài viết sẵn, từ trực tiếp, gián tiếp đến theo dạng đề.

Cách viết mở bài Câu cá mùa thu
- Hai tên gọi Câu cá mùa thu và Thu điếu là một bài; nên ghi cả hai ở lần nhắc đầu tiên để người chấm thấy em nắm rõ tác phẩm.
- Giới thiệu ngắn về Nguyễn Khuyến (Tam nguyên Yên Đổ, cáo quan về quê) và chùm ba bài thơ thu Nôm: Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm.
- Câu cuối mở bài nêu vấn đề nghị luận: bức tranh thu, tình thu, nghệ thuật lấy động tả tĩnh hay hai câu kết, tùy đề.
- Khi trích thơ, nên chọn những câu chắc chữ như câu đầu, câu thứ tư hay câu cuối; câu thứ bảy có nhiều dị bản.
Mở bài trực tiếp Câu cá mùa thu
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Nguyễn Khuyến, người đời quen gọi là Tam nguyên Yên Đổ, để lại nhiều bài thơ Nôm đẹp về làng quê, trong đó nổi bật là chùm ba bài thơ thu. Câu cá mùa thu (Thu điếu) vẽ nên cảnh ao thu trong trẻo, tĩnh lặng, qua đó lặng lẽ bộc lộ tình yêu quê hương và nỗi niềm thời thế của một nhà nho đã lui về ở ẩn.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, tác phẩm, vấn đề
Nguyễn Khuyến (1835–1909), hiệu Quế Sơn, quê ở Yên Đổ, huyện Bình Lục, từng đứng đầu cả ba khoa thi Hương, Hội, Đình nên người đời tôn là Tam nguyên Yên Đổ. Ra làm quan giữa lúc thực dân Pháp đang lấn dần đất nước, ông cáo quan về làng năm 1884 và sống những năm cuối đời giữa ruộng vườn. Chính quãng đời ấy đã cho ra đời chùm thơ thu bằng chữ Nôm gồm Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm. Câu cá mùa thu được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, tả một ao thu nhỏ với chiếc thuyền câu, làn sóng biếc, chiếc lá vàng. Qua bức tranh tĩnh lặng ấy, người đọc nhận ra một tâm hồn quấn quýt với quê nhà cùng nỗi cô đơn, u uẩn của người viết giữa thời cuộc.
Mở bài gián tiếp Câu cá mùa thu
Mẫu 3 – từ đề tài mùa thu trong thơ ca
Mùa thu là nguồn cảm hứng chẳng bao giờ cạn của thi ca. Thơ Đường có những mùa thu hiu hắt nơi đất khách của Đỗ Phủ, thơ mới có mùa thu bâng khuâng, rạo rực của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư. Thế nhưng nhắc đến mùa thu của làng quê Bắc Bộ, nhiều người nghĩ ngay tới Nguyễn Khuyến. Giữa ba bài thơ thu của ông, Câu cá mùa thu được Xuân Diệu đánh giá là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Bài thơ không có gì cầu kì: một cái ao, một con thuyền, một ngõ trúc, vậy mà gợi được cả hồn thu đất Việt cùng tâm sự kín đáo của người viết.
Mẫu 4 – từ con người nhà nho thanh bạch
Có những nhà nho chọn ở lại chốn quan trường dù biết mình bất lực, cũng có những người chọn trở về ruộng vườn để giữ lấy sự trong sạch. Nguyễn Khuyến thuộc lớp người thứ hai. Đỗ đạt rất cao nhưng chứng kiến cảnh nước mất, triều đình hèn yếu, ông từ quan về làng, sống gần gũi với người nông dân và cảnh vật thôn quê. Câu cá mùa thu ra đời trong những năm tháng ấy. Bài thơ tả một buổi ngồi câu bên ao, nhưng điều đọng lại sau tám câu thơ là một tâm hồn thanh cao, yêu quê tha thiết mà vẫn mang nỗi buồn thầm lặng của kẻ sĩ trước thời thế.
Mẫu 5 – từ chùm ba bài thơ thu
Nguyễn Khuyến có ba bài thơ thu viết bằng chữ Nôm, mỗi bài mở ra một góc nhìn riêng. Thu vịnh đưa ta lên khoảng trời cao rộng, Thu ẩm gợi chén rượu đêm thu bên ngôi nhà cỏ, còn Câu cá mùa thu (Thu điếu) thu cảnh vật lại quanh một chiếc ao nhỏ của làng quê. Ở bài thơ này, không gian tuy hẹp mà không hề tù túng, bởi từ mặt ao, tầm mắt nhà thơ lần lượt hướng lên trời xanh, ra ngõ trúc rồi trở về chiếc thuyền câu. Qua bức tranh ấy, Nguyễn Khuyến gửi gắm tình yêu thiên nhiên, tình quê và cả nỗi niềm u uất của mình.
Mẫu 6 – từ thủ pháp lấy động tả tĩnh
Thơ cổ phương Đông thường ưa lấy cái động để tôn lên cái tĩnh: một tiếng chim, một hồi chuông có khi đủ khiến không gian thêm vắng lặng. Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến là một ví dụ tiêu biểu cho thủ pháp ấy. Cả bài thơ chỉ có những chuyển động rất nhỏ: sóng gợn một chút, chiếc lá đưa nhẹ, mây đứng lơ lửng, và sau cùng là tiếng cá đớp mồi nơi chân bèo. Chính những cử động khẽ khàng ấy làm cảnh thu càng thêm tĩnh mịch, đồng thời hé mở tâm trạng trầm lặng, cô quạnh của nhà thơ.
Mẫu 7 – từ hình ảnh ao thu và chiếc thuyền câu
Có những bài thơ chỉ cần câu mở đầu đã đưa người đọc về đúng một miền quê. Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến là bài thơ như thế: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo / Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Không phải dòng sông rộng hay mặt hồ lớn, chỉ là chiếc ao mà làng nào ở đồng bằng Bắc Bộ cũng có, cùng con thuyền nhỏ xíu giữa làn nước trong. Từ khung cảnh giản dị ấy, nhà thơ mở ra cả một bức tranh thu thanh sơ, đồng thời để lộ một tâm hồn đang tìm sự bình yên giữa cuộc đời nhiều biến động.
Mẫu 8 – từ những sắc xanh trong bài thơ
Đọc Câu cá mùa thu, Xuân Diệu từng thích thú với những sắc xanh nối tiếp nhau trong bài: xanh của nước ao, của sóng, của trời, của ngõ trúc, của lớp bèo. Giữa nền xanh ấy, Nguyễn Khuyến chỉ đặt một điểm vàng là chiếc lá thu khẽ đưa trong gió. Cách phối màu tinh tế đó cho thấy con mắt hội họa của nhà thơ và tình yêu đặc biệt ông dành cho cảnh quê. Bài thơ vì vậy không chỉ là một bức tranh thu đẹp, mà còn là nơi tâm hồn Nguyễn Khuyến hòa vào thiên nhiên, lặng lẽ gửi gắm nỗi niềm riêng.
Mẫu 9 – từ cách gieo vần độc đáo
Ít bài thơ nào gieo vần khó như Câu cá mùa thu. Nguyễn Khuyến chọn vần “eo”, một vần hẹp dễ làm câu thơ gượng ép, vậy mà các chữ veo, teo, vèo, teo, bèo lại hiện lên tự nhiên như lời ăn tiếng nói thường ngày. Vần thơ ấy góp phần khiến không gian như co lại, thu nhỏ, gợi cảm giác vắng vẻ của ao thu. Bài thơ vì thế vừa cho thấy tài sử dụng tiếng Việt của Nguyễn Khuyến, vừa truyền đến người đọc một tâm trạng cô quạnh, trầm buồn của nhà thơ trước cảnh và trước đời.
Mở bài Câu cá mùa thu theo dạng đề
Mẫu 10 – đề cảm nhận bức tranh thu
Nguyễn Khuyến được xem là nhà thơ của làng quê Việt Nam, và bức tranh thu trong Câu cá mùa thu (Thu điếu) là minh chứng thuyết phục. Cảnh thu ở đây không mang dáng vẻ ước lệ với lá ngô đồng hay rừng phong như thơ cổ, mà là ao chuôm, ngõ trúc, bèo nước thân thuộc của xóm làng. Màu sắc trong trẻo, đường nét thanh mảnh, chuyển động nhẹ nhàng làm nên một không gian thu tĩnh lặng mà đầy sức sống. Tìm hiểu bức tranh ấy, ta sẽ thấy được tài quan sát tinh tế và tình yêu sâu nặng của nhà thơ với quê hương.
Mẫu 11 – đề phân tích tâm trạng nhà thơ
Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến mang tên một thú vui nhàn tản, song người câu cá dường như chẳng chú tâm vào chuyện câu. Ông ngồi lặng giữa ao thu, nhìn mây trời, nghe tiếng lá, để lòng mình chìm trong suy tư. Đằng sau dáng ngồi tưởng như ung dung ấy là nỗi buồn của một nhà nho bất lực trước cảnh nước mất, đành tìm về thiên nhiên để giữ mình trong sạch. Tình thu trong bài thơ vì thế chính là tình quê thầm kín và nỗi cô đơn trước thời cuộc của tác giả.
Mẫu 12 – đề phân tích hai câu kết
Hai câu kết của Câu cá mùa thu là nơi hình ảnh con người hiện ra rõ nhất. Sau sáu câu tả cảnh, Nguyễn Khuyến mới xuất hiện trong tư thế người ngồi câu lặng lẽ, chờ lâu mà chẳng được gì. Rồi bất chợt một âm thanh khẽ vang lên: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo”. Tiếng động nhỏ ấy vừa làm cảnh vật thêm tĩnh, vừa như đánh thức người câu khỏi dòng suy nghĩ miên man. Phân tích hai câu thơ này, ta sẽ hiểu hơn tâm trạng mông lung, trầm lặng của nhà thơ khi ngồi giữa mùa thu quê nhà.
Mở bài Câu cá mùa thu nâng cao
Mẫu 13 – so sánh với Thu hứng của Đỗ Phủ
Cùng viết về mùa thu bằng thể thơ Đường luật, nhưng mỗi nhà thơ mang đến một gam màu riêng. Trong Thu hứng, Đỗ Phủ để mùa thu hiện lên với sương móc, rừng phong, sóng gió dữ dội nơi đất khách, gắn với nỗi nhớ quê và nỗi đau thời loạn. Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến lại chọn cái tĩnh, cái nhỏ, cái trong của một ao làng. Hai bài thơ khác nhau về cảnh nhưng gặp nhau ở tấm lòng của những trí thức luôn đau đáu vì thời cuộc. Đặt hai tác phẩm cạnh nhau, ta càng thấy rõ nét Việt Nam rất riêng trong bức tranh thu của Tam nguyên Yên Đổ.
Mẫu 14 – mở bài học sinh giỏi
Người ta thường nói thơ hay là thơ còn để lại dư âm sau khi người đọc đã gấp trang sách. Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến có thứ dư âm ấy. Tám câu thơ không kể một sự kiện nào, không bày tỏ trực tiếp một cảm xúc nào, chỉ có ao thu, thuyền câu, sóng nước, lá vàng, mây trời và ngõ trúc. Vậy mà sau vẻ yên ả bề ngoài, người đọc lại nghe ra một nỗi niềm rất sâu: nỗi cô đơn của kẻ sĩ đứng ngoài thời cuộc, tình yêu quê kín đáo và nỗi day dứt chưa nguôi trước vận nước. Nhà thơ đã đưa cái hồn của làng quê vào thơ bằng thứ tiếng Việt giản dị mà tinh luyện, khiến bài thơ trở thành một trong những bức tranh thu đẹp nhất của văn học trung đại. Tìm hiểu Câu cá mùa thu là cách để hiểu một tâm hồn lớn qua những điều tưởng như rất nhỏ.
Nên chọn mẫu mở bài Câu cá mùa thu nào?
Mở bài Câu cá mùa thu cần giới thiệu được Nguyễn Khuyến, chùm thơ thu và nêu đúng vấn đề đề bài hỏi. Với bài kiểm tra lớp 8, lớp 10, em có thể dùng mẫu trực tiếp cho gọn; đề hỏi cảnh thu, tình thu hay hai câu kết thì chọn mẫu theo dạng đề; bài viết dài hoặc thi học sinh giỏi nên dùng mẫu gián tiếp, nâng cao. Hãy nhớ bài thơ còn có tên Thu điếu và viết lại mẫu bằng lời văn của chính mình.
Xem thêm:
- Soạn bài Thu điếu (Nguyễn Khuyến) – Ngữ văn 8 Kết nối tri thức
- Thu điếu (Nguyễn Khuyến): tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu)
- Cảm nhận bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến
- Tác giả Nguyễn Khuyến: cuộc đời và sự nghiệp
- Kết bài Câu cá mùa thu (Thu điếu) hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, mở rộng