Thờ ơ là tỏ ra lạnh nhạt, không để tâm, không chút hứng thú với một người hay một việc lẽ ra đáng quan tâm. Đây là tính từ, gần nghĩa với dửng dưng, hờ hững, lãnh đạm. Thái độ thờ ơ có thể nhắm vào chuyện lớn như thời cuộc, cũng có thể chỉ là một tin nhắn để mấy ngày không trả lời.
| Nghĩa ngắn | Lạnh nhạt, không quan tâm, không thiết tha |
| Loại từ | Tính từ, từ láy thuần Việt |
| Sắc thái | Thường mang ý chê |
| Trái nghĩa | Quan tâm, chú ý, sốt sắng, nhiệt tình |

Thờ ơ là lạnh với điều đáng để tâm
Chữ thờ ơ không nói rằng người ta ghét. Nó nói rằng người ta không bận lòng. Chính vì vậy mà nhiều khi nó làm đau hơn một lời mắng: người bị mắng ít ra còn được để ý tới.
Từ điển tiếng Việt giảng thờ ơ là tỏ ra lạnh nhạt, không hề quan tâm, không có chút tình cảm gì, và đưa ví dụ thờ ơ với thời cuộc. Từ này đi với hai kiểu đối tượng:
- Với người: Bạn mới chuyển trường bắt chuyện mãi mà cả nhóm vẫn thờ ơ.
- Với việc, với vấn đề: Nhiều cư dân thờ ơ với chuyện phân loại rác, đổ chung một túi cho nhanh.
Về cấu tạo, thờ ơ là từ láy vần: hai tiếng cùng vần “ơ”, tiếng “ơ” tách riêng không mang nghĩa. Âm “ơ” kéo dài, đọc lên nghe hơi lơ đãng, rất khớp với cái dáng của người đang không để tâm.
Thờ ơ, hờ hững, bàng quan, vô cảm
| Từ | Điểm riêng | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thờ ơ | Không quan tâm, không hứng thú; dùng rộng nhất | Thờ ơ với việc học |
| Hờ hững | Nhạt dần trong tình cảm, nửa vời, hay nói về người thân, người yêu | Lời hỏi han hờ hững |
| Dửng dưng | Không động lòng trước chuyện lẽ ra phải xúc động | Dửng dưng trước tin buồn |
| Bàng quan | Đứng ngoài nhìn, coi việc chung như việc của người khác | Thái độ bàng quan trước cái sai |
| Vô cảm | Mất khả năng rung động trước nỗi đau, niềm vui của người khác; nặng nhất | Sống vô cảm |
Năm từ này xếp được thành một bậc thang. Thờ ơ và hờ hững còn ở mức thái độ, có thể đổi được. Bàng quan đã thành chỗ đứng: chọn ở ngoài cuộc. Vô cảm là khi sự lạnh lùng ăn vào tâm tính. Chỗ khác nhau giữa người đứng nhìn và người không để tâm được bàn riêng trong bài giải nghĩa chữ bàng quan 旁觀; còn tầng nặng nhất có ở bài giải nghĩa thói vô cảm.
Trái nghĩa với thờ ơ có quan tâm, sốt sắng, nhiệt tình, chú ý, để tâm.
Gặp người, gặp việc hay gặp thời cuộc thì thay thờ ơ bằng chữ nào, và chữ nào đứng phía ngược lại, có ở đồng nghĩa, trái nghĩa với thờ ơ.
Riêng hờ hững còn có câu thơ Truyện Kiều đi kèm và dạng đảo hững hờ; chỗ giống, chỗ khác của hai chữ được đặt cạnh nhau ở bài hờ hững khác thờ ơ thế nào.
Ván tổ tôm giữa đêm vỡ đê
Muốn thấy thờ ơ trong văn chương, khó tìm cảnh nào rõ hơn truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn. Đêm mưa to, nước sông lên, hàng trăm người dân lội bùn hộ đê. Trong đình cao ráo, quan phụ mẫu, người có trách nhiệm coi đê, ngồi đánh tổ tôm, nha lại hầu quạt hầu trà. Có người chạy vào báo tin đê vỡ, quan quát mắng đuổi ra rồi lại cúi vào quân bài. Quan ù được ván lớn, hả hê, trong khi ngoài kia nước tràn khắp vùng, nhà trôi, người chết.
Truyện không cần một lời bình nào về “thờ ơ”. Tác giả chỉ đặt hai cảnh sát nhau: trong đình ấm cúng, ngoài đê sống chết. Người đọc tự thấy sự thờ ơ của kẻ có quyền đáng sợ đến mức nào. Phần tóm tắt và bố cục của truyện có ở bài tìm hiểu truyện ngắn của Phạm Duy Tốn.
Khi thờ ơ thành một lối sống
Đề nghị luận “thuyết phục người khác từ bỏ thái độ sống thờ ơ, vô cảm” khá quen với học sinh. Một hướng lập luận gọn:
- Nhận diện: thờ ơ là không để tâm đến người và việc quanh mình, kể cả khi mình có thể giúp. Ví dụ: lướt qua tai nạn để quay video, im lặng khi bạn bị bắt nạt.
- Tác hại: người bị bỏ mặc thấy cô độc; tập thể mất dần sự gắn bó; chính người thờ ơ cũng nghèo đi về cảm xúc.
- Lời thuyết phục: bắt đầu từ việc nhỏ, hỏi han một câu, chú ý một chút. Lòng quan tâm đúng mực đến người khác không đòi hỏi gì lớn lao.
Cũng nên phân biệt: thờ ơ như một thái độ khác với trạng thái mất hứng thú kéo dài. Trong y khoa có khái niệm “chứng thờ ơ” (apathy), khi một người mất động lực và không còn quan tâm tới hầu hết mọi việc, có thể đi kèm một số bệnh. Nếu bản thân hay người nhà rơi vào tình trạng ấy nhiều tuần liền, nên gặp bác sĩ thay vì tự trách mình lười.
Một chi tiết nhỏ về cách dùng: thờ ơ đi với giới từ “với” hoặc “trước” (thờ ơ với bạn bè, thờ ơ trước lời kêu cứu), không nói “thờ ơ về”.
Thờ ơ với người, với việc và với chính mình
Thờ ơ tiếng Anh là gì?
Tính từ thường dịch là indifferent (không quan tâm) hoặc apathetic (mất hứng thú, uể oải). Danh từ “sự thờ ơ” là indifference hoặc apathy.
Người thờ ơ là người như thế nào?
Là người ít để ý cảm xúc, nhu cầu của người khác và chuyện chung quanh: nghe kể chuyện buồn chỉ “ừ”, việc chung không hỏi tới. Có người thờ ơ vì mệt mỏi, vì đang tự lo chuyện riêng, chưa hẳn vì lạnh lùng.
Thờ ơ trong tình yêu biểu hiện ra sao?
Thường là những thay đổi nhỏ: trả lời tin nhắn chậm và cụt, không còn hỏi ngày của người kia thế nào, quên những dịp từng nhớ. Thờ ơ kéo dài trong một mối quan hệ hay là dấu hiệu cần nói chuyện thẳng với nhau.
Thái độ thờ ơ có giống lười biếng không?
Không hẳn. Lười là ngại làm việc; thờ ơ là không thấy việc ấy, người ấy đáng để tâm. Một người rất chăm học vẫn có thể thờ ơ với bạn ngồi cạnh.