Truyện ngắn Sống chết mặc bay do Phạm Duy Tốn viết được coi là viên gạch đầu tiên của truyện ngắn hiện đại nước ta, từng được học trong sách Ngữ văn 7 tập hai chương trình cũ (các bài khác của khối 7 xem tại chuyên mục Ngữ văn lớp 7). Bài viết gom đủ những điều cần nắm: nội dung truyện, tiểu sử tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, giá trị nội dung và nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề, sơ đồ tư duy và hai mẫu tóm tắt.

Nội dung văn bản Sống chết mặc bay
Truyện mở ra lúc nửa đêm về sáng, mưa như trút, nước sông Nhị Hà (sông Hồng) lên to, khúc đê của một làng thuộc phủ nọ đã rỉ nước ở mấy chỗ. Dân phu kể hàng trăm người cuốc, xẻng, đội đất, vác tre, lội bùn ngập quá khuỷu chân, ai cũng ướt như chuột lột và đã mệt lử. Người kể không giấu nổi nỗi lo, nhiều lần than lên trước sức trời quá mạnh.
Cách đó mấy trăm thước, trong ngôi đình cao ráo trên mặt đê, quan phụ mẫu, người lẽ ra phải đốc thúc việc hộ đê, đang ngồi trên sập, cùng các thầy đề, thầy đội, thầy thông và viên chánh tổng mải mê ván tổ tôm. Quanh quan là người gãi chân, người quạt, người hầu điếu, nào bát yến, nào tráp đồi mồi, đồng hồ vàng, ống vôi chạm. Ngoài kia hỗn loạn, trong này tĩnh mịch, chỉ nghe tiếng xướng bài.
Có tiếng kêu vang ngoài xa, rồi có người khẽ báo đê có thể vỡ, quan gắt “Mặc kệ!”. Một người nhà quê ướt sũng xông vào báo đê vỡ thật, quan quát tháo, dọa cách cổ, bỏ tù, sai đuổi ra rồi lại giục thầy đề bốc bài. Thầy đề bốc trúng quân quan chờ, quan reo lên vì ù ván to. Cùng lúc đó, nước tràn khắp vùng, nhà trôi, lúa ngập, “kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn”.
Thông tin tác giả Phạm Duy Tốn
Phạm Duy Tốn (1883 – 1924) sinh ở Hà Nội; nguyên quán làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông cũ. Ông học chữ Nho từ nhỏ, sau học trường Thông ngôn Hà Nội và tốt nghiệp năm 1901, từng làm thông ngôn ở tòa sứ, dạy học ở trường Trí Tri, tham gia sáng lập phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907), rồi thử nhiều nghề buôn bán trước khi dồn sức cho báo chí.
Ông viết cho rất nhiều tờ báo như Đông Dương tạp chí, Nam Phong, Lục tỉnh tân văn, Trung Bắc tân văn, với các bút danh Ưu Thời Mẫn, Đông Phương Sóc, Thọ An. Những năm cuối đời, ông còn là nghị viên ở Hà Nội và Bắc Kì. Ông mất năm 1924 vì bệnh lao, khi mới ngoài bốn mươi tuổi.
Sự nghiệp văn chương của Phạm Duy Tốn không đồ sộ: vài truyện ngắn (Bực mình, Sống chết mặc bay, Con người Sở Khanh, Nước đời lắm nỗi) và tập truyện cười Tiếu lâm An Nam. Nhưng ông được ghi nhận là cây bút tiên phong của văn xuôi quốc ngữ hiện đại: truyện của ông hướng vào hiện thực xã hội, đưa người nông dân vào trang viết và phê phán thói tệ của tầng lớp trên bằng lối kể mới, khác hẳn văn xuôi trung đại.
Thông tin tác phẩm Sống chết mặc bay
Sống chết mặc bay được in ở đâu?
Truyện in trên tạp chí Nam Phong số 18 (tháng 12 năm 1918). Trong số ít ỏi tác phẩm của Phạm Duy Tốn, đây là truyện được nhắc tới nhiều nhất, và cũng là một cột mốc mở đầu của truyện ngắn hiện đại nước ta.
Hoàn cảnh sáng tác
Truyện ra đời trong những năm đầu thế kỉ XX, khi chế độ thực dân nửa phong kiến khiến bộ máy quan lại ngày càng mục nát, còn người nông dân Bắc Kì thường xuyên chịu cảnh lũ lụt, vỡ đê. Trước đó, năm 1915, đồng bằng Bắc Kì trải qua một trận lụt lớn mà chính Phạm Duy Tốn từng viết bài kêu gọi cứu trợ; trải nghiệm ấy được nhiều nhà nghiên cứu cho là chất liệu gần gũi của truyện.
Thể loại, phương thức biểu đạt, ngôi kể
- Thể loại: truyện ngắn hiện đại.
- Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm.
- Ngôi kể: ngôi thứ ba; người kể đứng ngoài nhưng nhiều lần bình luận, bày tỏ cảm xúc trực tiếp.
Bố cục Sống chết mặc bay có mấy phần?
Truyện chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “Khúc đê này hỏng mất”): nguy cơ vỡ đê và cảnh người dân chống đỡ trong mưa lũ.
- Phần 2 (tiếp theo đến “Điếu, mày!”): quan phụ mẫu và đám nha lại mải ván tổ tôm trong đình, mặc kệ tin đê vỡ.
- Phần 3 (phần cuối): đê vỡ, người dân chìm trong cảnh lũ lụt thảm sầu.
Giá trị nội dung
- Giá trị hiện thực: phơi bày sự đối lập giữa một bên là quan lại sống hưởng lạc, thờ ơ với dân và một bên là tình cảnh khốn cùng của người dân khi thiên tai ập đến; lên án tên quan phụ mẫu coi ván bài trọng hơn mạng người.
- Giá trị nhân đạo: bày tỏ niềm thương xót với người lao động bị bỏ mặc, bất bình trước sự tàn nhẫn của kẻ cầm quyền.
Giá trị nghệ thuật
- Kết hợp thành công phép tương phản (ngoài đê – trong đình) và phép tăng cấp (mưa, nước, nguy cơ vỡ đê; mức độ mê bài của quan).
- Ngôn ngữ kể, tả sinh động; lời bình luận trực tiếp giàu cảm xúc, có chỗ mỉa mai sâu cay.
- Ngôn ngữ đối thoại ngắn, sắc, khắc họa rõ tính cách; nhân vật quan phụ mẫu mang tính điển hình.
- Lối mở đầu đi thẳng vào cảnh, kết cấu chặt và dồn tới cao trào, mang dáng dấp truyện ngắn hiện đại.
Ý nghĩa nhan đề Sống chết mặc bay
Nhan đề lấy từ vế đầu câu tục ngữ Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi, chỉ thái độ dửng dưng, mặc kệ sinh mạng người khác miễn là mình có lợi. Đặt vào truyện, nó gói trọn bản chất của viên quan phụ mẫu: dân sống hay chết mặc dân, miễn ván bài của quan được ù. Nhan đề vì thế vừa là lời tố cáo, vừa là lời mỉa mai chua chát của tác giả.
Sơ đồ tư duy Sống chết mặc bay

Tóm tắt Sống chết mặc bay
Mẫu 1 – Tóm tắt Sống chết mặc bay ngắn nhất
Một đêm mưa lũ, đê sắp vỡ, người dân vật lộn giữ đê trong tuyệt vọng. Còn viên quan phụ mẫu đi hộ đê lại ngồi trong đình cao ráo đánh tổ tôm, gạt phăng mọi tin báo. Khi quan ù ván bài to thì đê vỡ, cả vùng chìm trong nước, dân chúng lâm vào cảnh thảm sầu.
Mẫu 2 – Tóm tắt Sống chết mặc bay đầy đủ
Đêm khuya, mưa không ngớt, sông Nhị Hà dâng cao, khúc đê ở một làng thuộc phủ nọ đã rỉ nước. Hàng trăm dân phu dầm mưa, lội bùn, đắp đất, cừ tre, ai cũng kiệt sức. Trong khi ấy, quan phụ mẫu được giao hộ đê ngồi trong ngôi đình vững chãi, có người hầu kẻ hạ, bày đủ đồ xa xỉ, ngồi đánh bài cùng lũ nha lại. Nghe có người báo đê có thể vỡ, quan gắt bảo mặc kệ. Một người dân chạy vào báo đê vỡ thật, quan quát mắng, dọa bỏ tù, sai đuổi ra, rồi giục bốc bài. Quan ù to, hả hê vui sướng; cũng lúc ấy, nước tràn khắp vùng, nhà cửa trôi, ruộng đồng ngập, người chết không nơi chôn.
Lời kết
Học Sống chết mặc bay, em cần nhớ ba điểm: Phạm Duy Tốn là cây bút tiên phong của truyện ngắn hiện đại; truyện dựng trên hai cảnh đối lập ngoài đê và trong đình; hai phép tương phản và tăng cấp cùng đẩy câu chuyện tới kết cục quan ù bài đúng lúc đê vỡ.
Xem thêm: