Thơ Hoàng Trung Thông mộc mạc, chắc khỏe như chính hai câu thơ nhiều thế hệ học sinh thuộc lòng: “Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Từ thơ kháng chiến đến bài thơ cha con “Những cánh buồm”, ông để lại một giọng thơ bình dị mà bền bỉ. Hãy cùng Văn VN điểm qua cuộc đời, các tập thơ và những bài thơ tiêu biểu của ông.
Đôi nét về nhà thơ Hoàng Trung Thông
- Tên: Hoàng Trung Thông; ngoài ra từng ký các bút danh Đặc Công, Bút Châm.
- Năm sinh – mất: 5/5/1925 – 4/1/1993 (mất tại Hà Nội).
- Quê quán: xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Sự nghiệp: nhà thơ, nhà lý luận phê bình, dịch giả; từng là Tổng biên tập báo Văn nghệ, Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, Vụ trưởng Vụ Văn nghệ (Ban Tuyên huấn Trung ương), Viện trưởng Viện Văn học (1976 – 1985).
- Giải thưởng: Huân chương Độc lập hạng Ba; Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (truy tặng, 2001); Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (truy tặng, đợt 6, năm 2022).

Theo Wikipedia tiếng Việt, thuở nhỏ Hoàng Trung Thông học chữ Hán và nổi tiếng thông minh trong vùng; năm 12 tuổi ông theo học trường Quốc học Vinh. Ông sớm tham gia phong trào Việt Minh; trong kháng chiến chống Pháp, ông cùng Hải Triều, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên lãnh đạo Hội Văn nghệ Liên khu IV. Chế Lan Viên, người bạn thân, từng viết tặng ông bài thơ “Gửi Trạng Thông họ Hoàng”.
Suốt từ 1945 đến cuối đời, ông vừa làm thơ, viết lý luận vừa đảm nhiệm nhiều trọng trách trong ngành văn hóa, văn nghệ: tỉnh ủy viên Nghệ An, Thư ký tòa soạn Tạp chí Văn nghệ, Tổng biên tập báo Văn nghệ và báo Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam. Dù giữ nhiều chức vụ, ông sống thanh bạch. Theo báo Công an Nhân dân, khi có cơ hội nhận học hàm giáo sư, ông từ chối với câu nói: “Tôi là nhà thơ. Thế đủ rồi.” Ông còn là dịch giả thơ Đỗ Phủ, Pushkin, Mayakovsky. Con trai ông là họa sĩ Hoàng Phượng Vỹ.
Xem tiểu sử tác giả Hoàng Trung Thông – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Danh sách tác phẩm của Hoàng Trung Thông
Hoàng Trung Thông để lại mười tập thơ và nhiều tiểu luận phê bình (danh mục theo Wikipedia tiếng Việt):
Thơ
- Quê hương chiến đấu (1955)
- Đường chúng ta đi (1960)
- Những cánh buồm (1964)
- Đầu sóng (1968)
- Trong gió lửa (1971)
- Như đi trong mơ (1977)
- Chiến công tuổi thơ (1983)
- Hương mùa thơ (1984)
- Tiếng thơ không dứt (1989)
- Mời trăng (1992)
Tiểu luận, phê bình
- Chặng đường mới của văn học chúng ta (1961)
- Cuộc sống thơ và thơ cuộc sống (1979)
- Những người thân những người bạn
Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước với các tập Quê hương chiến đấu, Mời trăng và Tuyển tập Hoàng Trung Thông. Năm 2022, bốn tập Đường chúng ta đi, Những cánh buồm, Đầu sóng, Tiếng thơ không dứt đưa tên ông vào danh sách truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.
Những bài thơ tiêu biểu của Hoàng Trung Thông
Thơ Hoàng Trung Thông còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, vì vậy Văn VN chỉ trích vài câu tiêu biểu kèm lời bình; toàn văn các bài có trên trang được dẫn link ở cuối mỗi mục.
1/ Bài ca vỡ đất (1948)
Theo trang tin của Hội Nhà văn Việt Nam, “Bài ca vỡ đất” là bài thơ đã làm nên tên tuổi Hoàng Trung Thông khi ông mới 23 tuổi. Bài thơ viết về đoàn người “áo vải” lên rừng khai hoang, cuốc đất trồng khoai, cấy lúa để nuôi kháng chiến. Nhịp thơ biến hóa linh hoạt, lúc câu dài như lời kể, lúc câu ngắn dồn dập như nhịp cuốc, rồi kết tinh thành hai câu thơ trở thành châm ngôn:
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
Hai câu thơ khẳng định sức mạnh của lao động và ý chí con người: chỉ cần bền bỉ, đất khô cằn cũng hóa ruộng vườn. Đến nay, câu thơ vẫn thường xuất hiện trong các đề nghị luận xã hội và bài luyện viết ở tiểu học.
Đọc toàn văn: Bài ca vỡ đất (Hoàng Trung Thông); bài nghị luận mẫu: Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.
2/ Bao giờ trở lại – bài thơ thành ca khúc “Bộ đội về làng”
Theo báo Sài Gòn Giải Phóng, bài thơ “Bao giờ trở lại” của Hoàng Trung Thông, viết sau ngày toàn quốc kháng chiến chống Pháp, đã được nhạc sĩ Lê Yên phổ thành bản hợp xướng “Bộ đội về làng”. Bài thơ là tiếng lòng của dân làng mong đợi, chờ đón các anh bộ đội trở về:
Các anh đi
Ngày ấy đã lâu rồi
Xóm làng tôi còn nhớ mãi
Tình quân dân trong bài thơ được diễn tả bằng những hình ảnh đời thường: mái nhà, tiếng hát câu cười, nồi cơm, bát nước chè xanh. Chính vẻ giản dị ấy làm bài thơ và ca khúc sống lâu trong lòng người nghe. Hiện đoạn trích “Bộ đội về làng” được học trong sách Tiếng Việt 5; xem lời giải Bài 22: Bộ đội về làng – Tiếng Việt lớp 5 Kết nối tri thức.
3/ Những cánh buồm (1963)
Theo Thi Viện, bài thơ viết năm 1963 và in trong tập thơ cùng tên (1964). Bài thơ kể cuộc dạo chơi của hai cha con trên bãi biển buổi sớm: bóng cha “dài lênh khênh”, bóng con “tròn chắc nịch”, rồi câu hỏi hồn nhiên của đứa con về nơi xa tít chân trời, nơi “chỉ thấy nước thấy trời”. Người cha trả lời rằng theo cánh buồm đi mãi sẽ tới những nơi có cây, có nhà, nhưng đó là nơi cha “chưa hề đi đến”. Cuối bài, người cha bất ngờ nhận ra:
Lần đầu tiên trước biển khơi vô tận
Cha gặp lại mình trong tiếng ước mơ con.
Hai câu kết là điểm sáng của bài: ước mơ khám phá thế giới được trao truyền từ cha sang con, và đứa con chính là người sẽ đi tiếp những con đường cha chưa đi. Thể thơ tự do, lời thơ như lời kể, xen những câu đối thoại ngắn, tạo nên giọng điệu ấm áp, trầm lắng. “Những cánh buồm” cũng là một trong bốn tập thơ đưa Hoàng Trung Thông tới Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Đọc toàn văn: Những cánh buồm (Hoàng Trung Thông); bài soạn: Soạn bài Những cánh buồm – Ngữ văn 6.
4/ Nếu tôi chết
Đây là bài thơ thường được nhắc tới khi nói về nhân cách Hoàng Trung Thông những năm cuối đời. Nhà thơ bình thản nói về cái chết của chính mình, không muốn ai khóc lóc, chỉ mong được nhớ bằng một điều giản dị:
Nếu tôi chết
Đắp điếm ngôi mồ tôi
Và anh hay chị sẽ viết
Giữ lòng trong suốt đời
“Giữ lòng trong suốt đời” sau này được dùng làm nhan đề bài viết về ông trên trang tin Hội Nhà văn Việt Nam, như một lời tổng kết cho cuộc đời thanh bạch của người giữ nhiều trọng trách mà vẫn sống giản dị. Đọc toàn văn: Bài thơ Nếu tôi chết (Hoàng Trung Thông).
5/ Các tập thơ Đường chúng ta đi, Đầu sóng, Tiếng thơ không dứt
Bên cạnh “Những cánh buồm”, ba tập Đường chúng ta đi (1960), Đầu sóng (1968) và Tiếng thơ không dứt (1989) là những tập được Hội đồng giải thưởng ghi nhận khi truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2022. Chúng trải dài qua ba chặng: những năm miền Bắc xây dựng hòa bình, những năm chống Mỹ và thời kỳ đổi mới. Có thể thấy mạch thơ Hoàng Trung Thông đi cùng các chặng đường của đất nước nhưng vẫn giữ giọng điệu riêng: nói thật, nói giản dị, ít trau chuốt hoa mỹ.
6/ Hoàng Trung Thông – nhà lý luận và dịch giả
Không chỉ làm thơ, Hoàng Trung Thông còn viết lý luận phê bình với các cuốn Chặng đường mới của văn học chúng ta (1961), Cuộc sống thơ và thơ cuộc sống (1979), và làm Viện trưởng Viện Văn học gần mười năm. Vốn Hán học từ nhỏ giúp ông dịch thơ Đỗ Phủ; ông cũng dịch thơ Nga của Pushkin và Mayakovsky. Tự nhận xét về mình, ông từng viết rằng Chế Lan Viên thường bảo thơ ông “phải say hơn nữa”, nhưng thơ ông “vẫn tỉnh”. Sự “tỉnh” ấy chính là nét riêng: một giọng thơ tỉnh táo, chân thành, ít cường điệu.
Thơ Hoàng Trung Thông trong sách giáo khoa
| Tác phẩm | Lớp – bộ sách | Vị trí trong sách |
|---|---|---|
| Những cánh buồm | Ngữ văn 6 – Kết nối tri thức | Tập 1, bài 2 “Gõ cửa trái tim”, thực hành đọc |
| Những cánh buồm | Ngữ văn 6 – Chân trời sáng tạo | Tập 2, bài 7 “Gia đình yêu thương”, văn bản đọc |
| Những cánh buồm | Ngữ văn 7 – Cánh diều | Tập 2, bài 7 “Thơ”, văn bản đọc |
| Bộ đội về làng (trích) | Tiếng Việt 5 – Kết nối tri thức | Tập 2, bài 22 |
Hai câu “Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” còn được dùng làm câu luyện viết trong sách Tiếng Việt 3 Chân trời sáng tạo (xem Bài 1: Ý tưởng của chúng mình – Tiếng Việt lớp 3). Việc một bài thơ như “Những cánh buồm” có mặt ở cả ba bộ sách Ngữ văn cho thấy sức sống bền lâu của đề tài tình cha con và khát vọng khám phá.
Phong cách thơ Hoàng Trung Thông
Nhà thơ Vũ Quần Phương từng nhận xét thơ Hoàng Trung Thông mang “những thuộc tính của đất: chắc bền, bình dị và có sức nuôi người”. Có thể thấy rõ mấy đặc điểm:
- Bình dị, gần lời nói thường: ông ít dùng chữ cầu kỳ; câu thơ như lời kể, lời trò chuyện.
- Kết hợp nhiều thể thơ: tự do, lục bát, năm chữ đan xen trong cùng một bài, như “Bài ca vỡ đất”.
- Cảm hứng về người lao động: những con người bình thường, “đoàn áo vải”, dân làng, người cha, đứa con.
- Chiều sâu suy tư ở chặng cuối: thơ càng về sau càng chắt lọc, chiêm nghiệm về đời người như “Nếu tôi chết”.
GS Phan Ngọc có một nhận xét đáng nhớ: “Chỉ có một Hoàng Trung Thông nhỏ bé, không hài lòng với chính mình. Đó là cái lớn của Hoàng Trung Thông.”
Lời kết
Thơ Hoàng Trung Thông không ồn ào nhưng ở lại lâu: một câu thơ về bàn tay lao động, một bãi biển có hai cha con, một lời dặn “giữ lòng trong suốt đời”. Đọc lại ông là đọc lại một nhân cách thơ trong sáng, bình dị của thế hệ nhà thơ kháng chiến.
Xem thêm: Tuyển tập tác phẩm Chế Lan Viên | Thơ Chính Hữu | Thơ Giang Nam
Xem thêm: thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, thơ Trần Đăng Khoa, thơ Y Phương.


