Thể phú là thể văn cổ có gốc từ Trung Hoa, viết có vần (hoặc văn xuôi xen vần), thường tả cảnh vật, kể sự việc để từ đó bày tỏ tình cảm, nói chí hay bàn chuyện đời. Hỏi “phú là thể loại gì” trong giờ Ngữ văn, ví dụ quen nhất là Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú) của Trương Hán Siêu đời Trần.
| Nghĩa ngắn | Thể văn có vần, phô bày cảnh vật, sự việc để gửi tình và chí |
| Chữ Hán | 賦 (phú) |
| Thuộc | Văn chương trung đại, nằm giữa thơ và văn xuôi |
| Hai dạng chính | Phú cổ thể (câu tự do hơn, hay có lối chủ – khách) và phú Đường luật (bắt buộc vần, đối) |
| Dấu hiệu nhận biết | Có vần, nhiều câu đối, tả cảnh rồi bình luận, giọng trang trọng và giàu điển cố |

Thể phú: tả cảnh để nói chí
Người mới đọc phú thường lúng túng vì không biết xếp nó vào đâu. Gọi là thơ thì câu quá dài, dài ngắn không đều; gọi là văn xuôi thì lại có vần, có đối, đọc lên nghe nhịp nhàng. Thực ra phú đứng đúng ở khoảng giữa đó.
Chữ 賦 có một nghĩa là bày ra, phô ra. Sách lí luận văn học cổ của Trung Hoa như Văn tâm điêu long nhấn vào hai điểm: phú mô tả sự vật và phô trương văn vẻ. Theo cách hiểu truyền thống, “phú” còn là một trong ba lối làm thơ của Kinh Thi (phú, tỉ, hứng), nghĩa là nói thẳng, kể thẳng ra. Từ cái gốc “phô bày” ấy, phú thành một thể văn chuyên tả: tả sông núi, cung điện, mùa màng, chiến trận. Nhưng tả để làm gì? Bài phú hay bao giờ cũng mượn cảnh để chuyển sang tình, sang lời bàn về đạo lí, thời thế.
Thể văn này có từ thời Hán. Sang Việt Nam, phú được các triều đại dùng trong khoa cử: kì thi Hương, thi Hội từng có phần làm phú. Bên cạnh phú chữ Hán, ông cha ta còn viết phú bằng chữ Nôm, mà tiêu biểu xưa nhất là Cư trần lạc đạo phú gắn với vua Trần Nhân Tông.
Phú cổ thể và phú Đường luật
Cách chia phổ biến trong sách phổ thông dựa vào độ chặt của luật.
| Tiêu chí | Phú cổ thể | Phú Đường luật (luật phú) |
|---|---|---|
| Thời kì hình thành | Có trước, gắn với phú đời Hán | Đặt ra từ đời Đường, dạng thông dụng nhất ở Việt Nam |
| Vần, đối | Có vần, đối không quá chặt; câu dài ngắn tự do, gần văn xuôi | Bắt buộc có vần và đối; mỗi câu chia hai vế đối nhau, chữ cuối câu gieo vần |
| Kết cấu | Hay dựng cuộc đối đáp giữa chủ và khách | Năm đoạn: lung (mở), biện nguyên, thích thực, phu diễn, nghị luận |
| Chỗ thường gặp | Phú văn chương, phú vịnh sử | Phú trong thi cử, văn tế làm theo lối phú |
Riêng phú Đường luật còn có ba cách gieo vần: độc vận (một vần suốt bài), hạn vận (mỗi đoạn một vần) và phóng vận (đổi vần tự do). Câu mở đầu mỗi đoạn hay là câu bốn chữ. Còn khi bài phú buông gần hết luật, câu chảy tự nhiên như văn xuôi có vần, người ta gọi là phú lưu thủy, tức phú “nước chảy”.
Cũng nên biết các nhà nghiên cứu không gọi tên thống nhất. Cùng bài Bạch Đằng giang phú, có sách xếp vào cổ phú, có người gọi là văn phú hay phú lưu thủy. Đi thi, cứ theo cách gọi của sách giáo khoa là phú cổ thể là an toàn.
Năm dấu hiệu nhận ra một bài phú
- Có vần. Đây là điểm tách phú khỏi văn xuôi thường. Vần có thể đổi theo đoạn, nhưng không bỏ hẳn.
- Câu văn đi từng cặp. Hai vế đối nhau về ý, về nhịp, nhiều khi cả về thanh bằng trắc.
- Tả trước, bàn sau. Phần lớn bài dành cho cảnh, cho việc; đoạn cuối mới chốt lại bằng lời bình về con người, lịch sử, đạo lí.
- Lối chủ – khách. Với phú cổ thể, tác giả hay để một nhân vật “khách” hỏi, một nhân vật khác đáp. Cách này giúp tác giả nói được nhiều điều mà không cần xưng “tôi”.
- Giọng khoa trương, dày điển cố. Phú thích kể liền một chuỗi địa danh, sự tích; muốn đọc trôi cần hiểu điển tích, điển cố là gì.
Đọc Phú sông Bạch Đằng theo đặc trưng thể loại
Bạch Đằng giang phú được Trương Hán Siêu viết bằng chữ Hán dưới thời Trần. Sách giáo khoa chương trình cũ in bản dịch, không in nguyên văn. Đặt bài này cạnh năm dấu hiệu trên, ta thấy gần như đủ cả.
Nhân vật khách và chuyến đi
Bài mở bằng một nhân vật “khách” mê ngao du, kể một hơi tên những vùng đất lừng danh mình đã đi qua. Lối liệt kê ấy là kiểu khoa trương quen thuộc của phú, nhằm cho thấy tầm vóc người đi và cái chí lớn muốn học theo các bậc đại nhân. Khi khách tới sông Bạch Đằng, cảnh chuyển hẳn: nước trời cuối thu bao la, bờ lau bãi lách, và dấu vết chiến trường xưa còn sót lại.
Các bô lão kể chuyện cũ
Đây là phần đối đáp, nét cổ thể rõ nhất. Các bô lão kể cho khách về những trận thắng trên dòng sông: Ngô Quyền phá quân Nam Hán, quân Trần bắt Ô Mã Nhi. Lời kể dồn dập, câu ngắn xen câu dài, tạo nên không khí trận mạc. Khi đặt hai thời đại cạnh nhau, bài phú cho thấy dòng sông như một chứng nhân của lịch sử.
Lời bàn và tiếng ca khép lại
Từ chuyện chiến trận, bài chuyển sang nghị luận: thắng giặc không chỉ nhờ đất hiểm mà chủ yếu nhờ người tài giỏi và có đức. Cuối bài, bô lão và khách lần lượt cất lời ca, kẻ bất nghĩa thì tiêu vong, người có đức thì tiếng thơm còn mãi. Phần tả – kể – bàn – ca ấy là một khung rất “phú”. Ai cần bố cục chi tiết có thể xem bố cục và nội dung Phú sông Bạch Đằng, hoặc trả lời câu hỏi SGK qua bài soạn Phú sông Bạch Đằng. Niềm tự hào về đời Trần trong bài cũng gần với tinh thần mà người ta gọi là hào khí Đông A thời nhà Trần.
Luyện nhận biết thể phú
Câu 1: Vì sao Phú sông Bạch Đằng được xếp vào phú cổ thể?
Đáp án: Vì bài có vần nhưng câu dài ngắn tự do, đối không bị ràng buộc chặt như luật phú, và tổ chức theo lối đối đáp chủ – khách (nhân vật khách và các bô lão). Đó là những nét của phú cổ thể chứ không phải phú Đường luật.
Câu 2: Kể tên năm đoạn của một bài phú Đường luật theo thứ tự.
Đáp án: Lung (mở đầu), biện nguyên (tìm gốc của đề), thích thực (giải thích ý nghĩa), phu diễn (tán rộng), nghị luận (bàn và tổng kết).
Câu 3: Điểm nào giúp phân biệt bài phú với một bài văn xuôi cổ thông thường?
Đáp án: Phú có vần và có nhiều câu đối hai vế, còn văn xuôi thường không bắt buộc vần. Ngoài ra, phú hay đi theo trình tự tả cảnh rồi mới bình luận.
Câu 4: Trong ba cách gieo vần độc vận, hạn vận, phóng vận, cách nào chặt nhất?
Đáp án: Độc vận, vì cả bài chỉ dùng một vần từ đầu đến cuối. Hạn vận cho mỗi đoạn một vần riêng, còn phóng vận đổi vần tùy ý.
Một chỗ học sinh hay viết sai: tên bài là Phú sông Bạch Đằng, còn Bạch Đằng hải khẩu của Nguyễn Trãi là một bài thơ chữ Hán viết về cửa biển ấy, không phải bài phú. Hai bài cùng đề tài nhưng khác hẳn thể loại.
Thể phú: mấy điều học sinh hay cần
Phú là gì trong văn học?
Phú là thể văn có vần của văn học trung đại, gốc Trung Hoa, chuyên phô bày cảnh vật, sự việc rồi gửi vào đó tình cảm, suy nghĩ của người viết. Chữ “phú” này khác chữ phú trong “giàu có” hay “phú quý”, dù viết cùng âm.
Phú cổ thể là gì?
Phú cổ thể là dạng phú có trước đời Đường, có vần nhưng câu văn tự do, đối không gò bó. Dạng này hay dùng cuộc đối đáp giữa chủ và khách để mở ra câu chuyện và lời bàn.
Thể phú có đặc điểm gì nổi bật nhất?
Nổi bật nhất là kết hợp vần với đối, đặt cảnh và việc lên trước rồi rút ra lời bình. Giọng điệu trang trọng, hay khoa trương, giàu điển cố.
Người Việt có viết phú bằng chữ Nôm không?
Có. Bên cạnh những bài phú chữ Hán như Bạch Đằng giang phú, văn học Việt Nam còn có phú Nôm, trong đó Cư trần lạc đạo phú thời Trần thường được nhắc đến như một trong những bài phú Nôm xưa nhất.