Hào khí Đông A là cách gọi khí thế hào hùng, ý chí quyết đánh và quyết thắng của quân dân thời nhà Trần ở thế kỉ XIII, thấy rõ nhất trong ba lần đẩy lui quân Mông – Nguyên. “Đông A” là lối chiết tự chữ Trần 陳, nên hào khí Đông A cũng chính là hào khí thời Trần. Học sinh hay gặp cụm từ này khi học Hịch tướng sĩ, Tỏ lòng và Phò giá về kinh.
| Nghĩa | Khí thế hào hùng, tinh thần quyết chiến và đồng lòng của thời Trần |
| Đông A | Chữ Trần 陳 tách làm hai phần: chữ Đông 東 và phần bộ bên trái |
| Thời gian | Thế kỉ XIII, gắn với các năm 1258, 1285, 1288 |
| Biểu hiện | Yêu nước, vua tôi đồng lòng, khát vọng lập công, niềm tự hào chiến thắng |
| Gặp trong | Hịch tướng sĩ, Tỏ lòng, Phò giá về kinh, Phú sông Bạch Đằng |

Hào khí Đông A nghĩa là gì?
Cụm từ có hai nửa. Hào khí là từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, chỉ chí khí mạnh mẽ, hào hùng; người ta nói “hào khí đấu tranh”, “hào khí của một thời”. Đông A là tên gọi khác của nhà Trần, có được nhờ một trò chơi chữ của người xưa.
Chữ Trần 陳 gồm hai phần: bên phải là chữ Đông 東 (phương đông), bên trái là bộ 阝, khi chiết tự người xưa gọi phần này là chữ “A”. Vì vậy chữ Trần được đọc tách thành “Đông A”. Lối chơi chữ ấy gọi là chiết tự. Vì vậy “nhà Đông A”, “thời Đông A” đều là nhà Trần, thời Trần.
Ghép lại, hào khí Đông A có hai tầng nghĩa. Hiểu hẹp, nó là khí thế của một triều đại cụ thể. Hiểu rộng, nó là tinh thần cả nước một lòng, từ vua quan đến binh lính và người dân, trước một kẻ thù mạnh hơn mình nhiều lần. Cần viết đúng Đông A (chữ A không dấu); viết “Đông Á” là thành vùng Đông Á, chẳng liên quan gì đến họ Trần.
Khí thế ấy lộ ra qua những việc nào?
Hào khí không phải thứ đo đếm được, nhưng sử sách và văn chương thời Trần để lại khá nhiều dấu vết của nó.
- Hội nghị Diên Hồng. Trước lần xâm lược thứ hai, Thượng hoàng Trần Thánh Tông mời các bô lão khắp nơi tới điện Diên Hồng, hỏi ý họ: hòa hay đánh? Các cụ đồng thanh xin đánh. Lần hiếm hoi trong lịch sử, chuyện chiến hay hòa được hỏi tới cả người dân.
- Lời đáp của Trần Quốc Tuấn. Khi nhà vua lo thế giặc quá mạnh và hỏi tính kế hàng, Hưng Đạo Vương đáp: “Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng”. Một câu ngắn mà cứng như thép.
- Khát vọng lập công. Người trai thời Trần coi chuyện chưa trả xong nợ công danh với đất nước là điều đáng thẹn, như Phạm Ngũ Lão bày tỏ trong bài thơ Tỏ lòng.
- Niềm tự hào sau chiến thắng. Người thắng trận không chỉ ăn mừng mà còn nghĩ đến cách giữ nước bền lâu khi thái bình.
Điểm chung của các biểu hiện ấy là sự đồng lòng. Sức mạnh không đến từ một vị tướng giỏi mà từ chỗ cả triều đình lẫn dân làng cùng chung một ý.
Vì sao thời Trần hun đúc được tinh thần ấy?
Có mấy nguyên nhân thường được các nhà nghiên cứu nhắc đến.
Thứ nhất là sức ép từ bên ngoài. Đế quốc Mông Cổ thế kỉ XIII là đạo quân đáng sợ bậc nhất thời bấy giờ, đã chiếm cả vùng đất rộng từ châu Á sang châu Âu. Đại Việt ba lần phải đối đầu với họ vào các năm 1258, 1285 và 1288. Trước một nguy cơ sát sườn như thế, hoặc đồng lòng, hoặc mất nước.
Thứ hai là cách nhà Trần gắn kết lòng người. Người trong hoàng tộc trực tiếp cầm quân, tiêu biểu là Trần Quốc Tuấn và Trần Quang Khải. Việc hỏi ý bô lão ở Diên Hồng cho thấy triều đình coi trọng tiếng nói của dân. Về cuối đời, Hưng Đạo Vương còn dặn vua phải nới sức dân, coi đó là kế sâu rễ bền gốc để giữ nước.
Thứ ba là những chiến thắng liên tiếp. Thắng trận làm niềm tin lớn lên, niềm tin lại nuôi tinh thần cho trận sau. Ba lần chiến thắng biến tinh thần ấy thành một ký ức chung của dân tộc. Đến các đời sau, mỗi khi cần khơi lòng yêu nước, người ta lại nhắc đến hào khí Đông A như một tấm gương.
Bốn trang văn thơ còn giữ khí thế thời Trần
Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn là tiếng nói khích lệ tướng sĩ trước cuộc kháng chiến lần thứ hai. Bài hịch vừa nêu gương trung nghĩa, vừa phê phán thói ham chơi, rồi chỉ ra con đường học binh thư, luyện quân. Bố cục và nội dung bài hịch có ở trang tác giả, tác phẩm bài hịch của Hưng Đạo Vương.
Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão có câu thơ chữ Hán phiên âm “Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”: ba quân mạnh như hổ báo, khí thế nuốt trôi trâu. Chữ “ngưu” cũng có người hiểu là sao Ngưu trên trời, nên bản dịch thơ có chỗ khác nhau. Đọc trọn bài và lời giảng ở bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão.
Phò giá về kinh (Tụng giá hoàn kinh sư) của Trần Quang Khải mở đầu bằng “Đoạt sáo Chương Dương độ”: cướp giáo giặc ở bến Chương Dương. Hai câu sau chuyển sang mong muốn dồn sức xây dựng thái bình. Có thể xem thêm bố cục và nội dung bài thơ của Trần Quang Khải.
Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu nhìn lại trận Bạch Đằng năm 1288 bằng giọng hoài cổ, vừa tự hào vừa suy ngẫm. Văn bản này được giới thiệu ở trang tìm hiểu bài phú của Trương Hán Siêu.
Khi viết đoạn văn về chủ đề này, nên nối hào khí Đông A với khái niệm rộng hơn là tình yêu đất nước qua các thời, rồi chọn dẫn chứng cụ thể từ một trong bốn văn bản trên thay vì kể lan man cả ba cuộc kháng chiến. Một chữ “thẹn” của Phạm Ngũ Lão ở cuối bài Tỏ lòng thường thuyết phục hơn cả trang liệt kê chiến công.
Khi viết về những trang văn này, có thể đổi chữ hào hùng bằng hùng tráng, oai hùng; xem đồng nghĩa, trái nghĩa với hào hùng.
Đông A, Đông Á và mấy chữ học trò dễ viết lệch
Hào khí Đông A là của triều đại nào?
Là của nhà Trần (1226–1400), rực rỡ nhất ở thế kỉ XIII, khi ba lần đánh lui quân Mông – Nguyên.
Vì sao gọi nhà Trần là Đông A?
Vì chữ Trần 陳 khi tách ra gồm chữ Đông 東 và phần bộ 阝 bên trái mà người xưa gọi là chữ “A”. Người xưa đọc tách chữ như thế, gọi là chiết tự, nên “Đông A” thành tên gọi khác của họ Trần.
Hào khí Đông A trong Tỏ lòng thể hiện ở đâu?
Ở hình ảnh người tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo giữ non sông, ở đội quân mạnh như hổ báo, và ở nỗi thẹn của tác giả khi chưa trả xong nợ công danh. Ba ý ấy gói đủ ba mặt: tư thế, sức mạnh và khát vọng.
Viết “hào khí Đông Á” có đúng không?
Không đúng. “Đông Á” là tên vùng địa lý phía đông châu Á. Khi nói về nhà Trần phải viết “Đông A”, chữ A không dấu.