Thể loại là dạng chung của nhiều tác phẩm có cùng cách phản ánh đời sống, cùng cách tổ chức lời văn và hình thức trình bày, ví dụ thơ, truyện, kí, kịch, văn nghị luận. Biết thể loại văn học của một văn bản là biết trước phải đọc nó theo cách nào: đọc thơ thì theo dòng cảm xúc, đọc truyện thì theo nhân vật và sự việc, đọc kịch thì theo xung đột.
| Nghĩa ngắn | Hình thức sáng tác được phân chia theo cách phản ánh hiện thực, cách dùng ngôn ngữ và lối thể hiện |
| Thuộc | Lí luận văn học; dùng cả cho phim, nhạc, hội họa |
| Hai tầng | Loại (trữ tình, tự sự, kịch) và thể (lục bát, truyện ngắn, bi kịch…) |
| Dấu hiệu nhận biết | Hình thức trình bày, người kể và cốt truyện, lời thoại, mục đích của văn bản |

Thể loại: cái khuôn chung của nhiều tác phẩm
“Thể” là dáng, là hình thức; “loại” là nhóm, là loài. Ghép hai yếu tố Hán Việt ấy lại, thể loại chỉ những nhóm tác phẩm có chung một kiểu hình thức. Mục từ này trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xếp thể loại là danh từ, chỉ hình thức sáng tác văn học, nghệ thuật, được chia ra dựa vào cách phản ánh hiện thực, cách vận dụng ngôn ngữ và phong cách thể hiện. Từ điển ghi kèm một từ đồng nghĩa ít gặp hơn: loại thể.
Trong giờ Ngữ văn, chữ này có hai tầng. Tầng rộng là loại: cách tồn tại chung của tác phẩm, như trữ tình, tự sự, kịch. Tầng hẹp là thể: hình dạng cụ thể mà mỗi loại hiện ra, như thơ lục bát, truyện ngắn, hài kịch. Sách giáo khoa và giáo trình nhiều khi gọi chung cả hai là thể loại, nên học sinh chỉ cần nhìn câu hỏi để biết đề đang hỏi tầng nào.
Sách Ngữ văn theo chương trình mới cũng xếp bài học theo kiểu văn bản và thể loại. Mỗi bài gắn với một nhóm như thơ, truyện, kí, kịch, văn bản nghị luận hay văn bản thông tin; cách chia lớn này được giải thích kĩ ở bài các loại văn bản trong sách Ngữ văn hiện hành.
Ba loại lớn và các thể nằm trong mỗi loại
| Loại | Đặc trưng | Một số thể tiêu biểu |
|---|---|---|
| Trữ tình | Bộc lộ trực tiếp cảm xúc, suy tư của con người; thường ngắn, giàu nhạc điệu | Ca dao trữ tình, thơ Đường luật, thơ lục bát, song thất lục bát, thơ tự do |
| Tự sự | Kể lại sự việc qua người kể chuyện, có nhân vật, cốt truyện, không gian và thời gian | Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết |
| Kịch | Dựng xung đột bằng lời thoại và hành động của nhân vật, viết để diễn trên sân khấu | Chèo, tuồng, bi kịch, hài kịch, kịch nói |
Ba loại này không tách rời tuyệt đối. Kí đứng giữa tự sự và báo chí, vì nó kể nhưng kể chuyện có thật. Văn nghị luận thường được tách riêng thành một nhóm, bởi đích của nó là thuyết phục người đọc bằng lí lẽ chứ không dựng hình tượng. Ở phía thơ, mỗi thể lại có luật riêng về số chữ, vần, nhịp; phần này có trong bài cách xác định một bài thơ thuộc thể nào.
Dựa vào đâu để xác định thể loại một văn bản?
Không cần thuộc định nghĩa mới đoán được thể loại. Có bốn chỗ nên nhìn, theo thứ tự từ dễ đến khó.
- Cách trình bày trên trang giấy. Văn bản chia dòng, có vần, có nhịp là thơ. Văn bản có tên nhân vật đứng đầu mỗi lời nói, kèm chỉ dẫn trong ngoặc như (đứng dậy, đi ra cửa) là kịch.
- Có người kể chuyện và chuỗi sự việc hay không. Có một người kể, nhân vật hành động, sự việc nối nhau thành cốt truyện thì đang ở loại tự sự.
- Chuyện có thật hay hư cấu. Kể việc thật, người thật, người viết thường xuất hiện trực tiếp: nghiêng về kí. Kể chuyện hư cấu: truyện.
- Văn bản muốn làm gì với người đọc. Để người đọc cùng rung động thì gần trữ tình; để người đọc đồng ý với một ý kiến thì là nghị luận; để người đọc biết thêm một sự việc, một quy trình thì là văn bản thông tin.
Với văn bản trung đại cần thêm một bước: xem tên thể nằm ngay trong nhan đề. Cáo, hịch, chiếu, phú, văn tế đều là thể có quy cách riêng, gọi tên đúng thể là đã trả lời được nửa câu hỏi.
Năm văn bản quen, năm thể loại khác nhau
Thánh Gióng: truyền thuyết
Truyện kể một nhân vật gắn với thời Hùng Vương và cuộc chống giặc Ân, có nhiều chi tiết kì ảo như cậu bé lớn nhanh như thổi, ngựa sắt phun lửa. Nhận đúng là truyền thuyết thì người đọc sẽ không hỏi “chuyện này có thật không” mà hỏi “nhân dân gửi gắm gì qua nhân vật”, vì thể loại này luôn có cốt lõi lịch sử được kì ảo hóa. Đặc điểm của thể này có ở bài truyền thuyết và cốt lõi lịch sử của nó.
Bánh trôi nước: thơ thất ngôn tứ tuyệt
Bốn câu, mỗi câu bảy chữ, gieo vần ở cuối các câu 1, 2, 4. Biết đó là thơ trữ tình theo thể Đường luật, người đọc sẽ chú ý tới câu kết, nơi tứ thơ thường được dồn lại, và nhận ra hình ảnh chiếc bánh chỉ là cái vỏ cho tiếng nói của người phụ nữ.
Chí Phèo: truyện ngắn
Truyện có người kể, có nhân vật, có biến cố làm đổi đời nhân vật (cuộc gặp Thị Nở). Vì là truyện ngắn, tác phẩm dồn vào một quãng đời và một tình huống chính, nên phân tích nên bám vào tình huống ấy thay vì kể lại cả đời nhân vật. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu theo hướng ấy có ở bài soạn Chí Phèo sách Kết nối tri thức.
Vũ Như Tô: bi kịch
Vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng dựng xung đột giữa khát vọng nghệ thuật của người thợ tài và nỗi khổ của dân phu, kết thúc bằng cái chết của nhân vật chính. Đọc như một vở bi kịch thì trọng tâm là xung đột và lời thoại, không phải lời người kể.
Bình Ngô đại cáo: cáo
Cáo là thể văn nghị luận thời trung đại, dùng để công bố một việc lớn. Biết thể loại giúp học sinh tìm luận đề chính nghĩa ở phần mở và chuỗi lí lẽ, dẫn chứng phía sau, thay vì đọc như một bài thơ kể chuyện chiến trận.
Thể loại, đề tài và phương thức biểu đạt khác nhau chỗ nào?
| Khái niệm | Trả lời câu hỏi | Ví dụ với Lão Hạc |
|---|---|---|
| Thể loại | Tác phẩm thuộc dạng nào? | Truyện ngắn |
| Đề tài | Tác phẩm viết về mảng đời sống nào? | Người nông dân nghèo trước Cách mạng |
| Phương thức biểu đạt | Đoạn văn dùng cách nói nào (kể, tả, biểu cảm…)? | Tự sự là chính, xen miêu tả và biểu cảm |
Học sinh hay trả lời “thể loại: tự sự” khi đề hỏi thể loại của Lão Hạc. Câu đó chưa sai hẳn nhưng mới dừng ở tầng loại; đáp án mong đợi là “truyện ngắn”. Ranh giới giữa nội dung viết về cái gì và hình thức viết theo dạng nào được tách bạch thêm ở bài phân biệt đề tài với chủ đề.
Luyện nhận diện thể loại qua năm câu
Câu 1: Xếp các tác phẩm sau vào loại trữ tình, tự sự hoặc kịch: Tấm Cám, Qua Đèo Ngang, Lão Hạc, Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Sống chết mặc bay.
Đáp án: Trữ tình: Qua Đèo Ngang. Tự sự: Tấm Cám (truyện cổ tích), Lão Hạc và Sống chết mặc bay (truyện ngắn). Kịch: Hồn Trương Ba, da hàng thịt.
Câu 2: “Thơ” là tên một loại hay tên một thể?
Đáp án: Thơ thường được xếp vào loại trữ tình, nhưng bản thân “thơ” lại gồm nhiều thể: lục bát, thất ngôn bát cú, thơ tự do… Cũng có thơ kể chuyện như truyện thơ, nên nói “thơ là một loại” thì chưa chính xác bằng “thơ là nhóm các thể văn vần”.
Câu 3: Một văn bản mở đầu mỗi đoạn bằng tên nhân vật, sau đó là lời nói, xen những câu in nghiêng trong ngoặc như (bước ra sân, nhìn quanh). Văn bản thuộc thể loại gì?
Đáp án: Kịch. Tên nhân vật đứng trước lời nói là dấu hiệu của lời thoại; câu trong ngoặc là chỉ dẫn sân khấu, hướng dẫn diễn viên hành động.
Câu 4: Vì sao Truyện Kiều được gọi là truyện thơ?
Đáp án: Tác phẩm có cốt truyện, nhân vật, chuỗi biến cố như một truyện (đặc trưng tự sự), nhưng được viết bằng câu thơ lục bát. Đây là thể giao thoa giữa tự sự và thơ, quen gọi là truyện thơ Nôm.
Câu 5: Nêu hai điểm phân biệt truyện ngắn với tiểu thuyết.
Đáp án tham khảo: Thứ nhất là dung lượng: truyện ngắn gọn, đọc một lần là hết; tiểu thuyết dài, nhiều chương. Thứ hai là phạm vi: truyện ngắn thường xoáy vào một tình huống, ít nhân vật; tiểu thuyết bao quát nhiều tuyến nhân vật và một quãng đời, thậm chí một thời đại.
Một chi tiết hay bị bỏ qua khi làm câu hỏi đọc hiểu: đề hỏi “văn bản thuộc thể loại nào” thì gọi tên thể càng cụ thể càng tốt, viết “truyền thuyết” thay vì “truyện dân gian”.
Chữ thể loại ngoài giờ văn: phim, nhạc, truyện mạng
Thể loại văn học là gì?
Là những nhóm tác phẩm văn học có chung cách phản ánh đời sống và cách tổ chức văn bản, chia lớn thành trữ tình, tự sự, kịch (nhiều sách thêm kí và nghị luận), chia nhỏ thành các thể như lục bát, truyện ngắn, tiểu thuyết, hài kịch.
Thể loại tiếng Anh là gì?
Thường dịch là genre, từ mượn tiếng Pháp, đọc gần như “giăng-rơ”. Thể loại văn học là literary genre; khi nói chung chung về kiểu, dạng, có thể dùng type hoặc kind.
Thể loại và thể thơ khác nhau ra sao?
Thể thơ là một phần nhỏ nằm trong thể loại. Nói “bài thơ thuộc thể loại thơ trữ tình” là nói tầng lớn; nói “bài thơ viết theo thể lục bát” là nói tầng nhỏ, căn cứ vào số chữ, vần, nhịp.
Thể loại phim, thể loại nhạc có dùng chữ này theo cùng nghĩa không?
Có, vẫn là cách xếp tác phẩm theo đặc điểm chung: phim hành động, phim kinh dị, nhạc pop, nhạc trữ tình. Ngoài đời, cách chia này dựa nhiều vào nội dung và cảm xúc mang lại cho khán giả hơn là hình thức như trong lí luận văn học.