Thể chiếu là thể văn thời trung đại mà nhà vua dùng khi truyền lệnh hoặc công bố một chủ trương lớn của triều đình. Lời chiếu có khi là văn xuôi, có khi là văn vần hoặc biền ngẫu, và luôn được ban ra với nghi lễ long trọng. Hỏi “chiếu là thể loại gì” thì học sinh thường nhớ ngay hai bài: Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn và Cầu hiền chiếu của Ngô Thì Nhậm.
| Nghĩa ngắn | Văn bản của vua, truyền xuống bề tôi và dân để ban lệnh, công bố chủ trương |
| Chữ Hán | 詔 (chiếu), gồm bộ ngôn 言 (lời nói) và chữ triệu 召 (gọi, vời đến) |
| Thuộc | Văn nghị luận (chính luận) trung đại, nhóm văn bản từ trên ban xuống |
| Dấu hiệu nhận biết | Người ban là vua, lời xưng “trẫm”, việc nói đến là việc hệ trọng của cả nước |
| Học ở | Ngữ văn 8 (Chiếu dời đô, sách cũ), Ngữ văn 11 Kết nối tri thức (Cầu hiền chiếu) |

Thể chiếu là lời của ai?
Nhìn vào mặt chữ đã đoán được một nửa. Chữ 詔 ghép bộ ngôn với chữ triệu, tức là “lời gọi”. Trong cung đình thời quân chủ, lời gọi ấy chỉ phát ra từ một người: nhà vua. Vì vậy, khi một văn bản mở bằng những lí lẽ về vận nước rồi kết bằng mệnh lệnh của “trẫm”, gần như chắc chắn ta đang đọc một bài chiếu.
Sách Ngữ văn định nghĩa ngắn gọn: đây là loại văn bản nhà vua dùng khi muốn truyền lệnh; về hình thức, người soạn được chọn văn xuôi, văn vần hay lối biền ngẫu; khi ban ra, tờ chiếu được đọc và tiếp nhận với nghi thức long trọng. Thời xưa, giấy tờ đi từ trên xuống gồm nhiều loại như chiếu, chế, dụ, cáo, lệnh; còn đi từ dưới lên vua thì có tấu, sớ, biểu. Đặt chiếu vào sơ đồ ấy sẽ thấy ngay vị trí của nó: văn bản cao nhất, nói điều lớn nhất.
Điều thú vị là chiếu đâu phải lúc nào cũng chỉ “ra lệnh”. Bài chiếu hay luôn phải thuyết phục được người nghe, nên nó là văn nghị luận thực thụ: có luận điểm, có dẫn chứng lịch sử, có lập luận chặt. Một ông vua giỏi thường giải thích vì sao phải làm, chứ ít khi chỉ phán “làm đi”.
Hai bài chiếu trong sách giáo khoa
Chiếu dời đô: lí lẽ của một cuộc dời kinh
Thiên đô chiếu (遷都詔) được cho là do Lý Thái Tổ ban vào mùa xuân năm 1010, khi quyết định rời kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La. Văn bản viết bằng chữ Hán, được ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thư. Bài ngắn nhưng đi từng bước rất chắc:
- Mở bằng tiền lệ: nhà Thương, nhà Chu bên Trung Hoa từng nhiều lần dời đô để mưu nghiệp lớn, nên vận nước dài lâu.
- Chuyển sang hiện tại: hai nhà Đinh, Lê cứ đóng yên ở chốn núi non, triều đại vì thế ngắn ngủi, dân chịu khổ. Nhà vua nói thẳng mình rất đau xót, không thể không dời.
- Chứng minh lựa chọn: Đại La ở giữa trời đất, thế rồng cuộn hổ ngồi, đất rộng phẳng, thế cao ráo, là nơi hội tụ của bốn phương.
- Kết bằng một câu hỏi: vua muốn dựa vào địa lợi ấy để định chỗ ở, rồi hỏi ý các khanh.
Chính câu kết ấy làm nên nét riêng. Lệnh đã quyết, nhưng lời lại mềm, mang dáng dấp của sự bàn bạc với quần thần. Muốn xem toàn văn bản dịch và phần hỏi đáp, có thể mở bài soạn Chiếu dời đô.
Cầu hiền chiếu: một mệnh lệnh nói bằng giọng mời
Cầu hiền chiếu do Ngô Thì Nhậm soạn thay vua Quang Trung, nhắm tới các sĩ phu Bắc Hà còn đứng ngoài, chưa chịu ra giúp triều Tây Sơn. Đối tượng là người hiền tài, nên bài chiếu gần như không có chữ nào cưỡng ép. Nó dùng hình ảnh, điển cố, lời lẽ khiêm nhường để chạm vào lòng tự trọng của kẻ sĩ, rồi mở rộng đường cho họ: ai có tài thì dâng thư bày tỏ, hoặc được người khác tiến cử. Phần phân tích kĩ về tác giả, hoàn cảnh ra đời nằm ở bài tìm hiểu Cầu hiền chiếu của Ngô Thì Nhậm.
Đặt hai bài cạnh nhau sẽ thấy thể chiếu co giãn khá rộng: cùng là lời vua, nhưng một bài công bố quyết định đã có, bài kia thực chất là lời thỉnh cầu.
Nhận ra một bài chiếu qua bốn dấu hiệu
- Chủ thể phát ngôn là vua. Có khi bài do bề tôi chấp bút như trường hợp Ngô Thì Nhậm, nhưng người đứng tên, người xưng “trẫm” vẫn là vua.
- Việc được nói là việc của cả nước. Dời kinh đô, tìm người tài, đổi niên hiệu, ân xá, nhường ngôi… không có bài chiếu nào bàn chuyện vặt.
- Lập luận đi từ lẽ chung đến việc cụ thể. Người viết hay viện dẫn sử sách, đạo trời, lòng dân trước, rồi mới đưa ra quyết định. Đây là lí do chiếu được xếp vào văn nghị luận.
- Giọng trang nghiêm nhưng có thể mềm. Lời vua phải uy, song nhiều bài chiếu hay lại thắng nhờ sự ôn tồn, tình cảm, như câu hỏi ý quần thần cuối Chiếu dời đô.
Về hình thức, đừng nhầm rằng chiếu bắt buộc phải là văn biền ngẫu. Có bài nhiều câu đối, có bài gần với văn xuôi. Câu đối xứng chỉ là một lối viết hay gặp, không phải điều kiện để gọi là chiếu.
Chiếu đứng đâu giữa hịch, cáo và biểu?
Bốn thể này hay được gom chung thành “văn chính luận trung đại”, vì vậy đề trắc nghiệm rất thích hỏi chúng khác nhau thế nào. Bảng dưới đây so theo chiều đi của văn bản, cách dễ nhớ nhất.
| Thể | Ai viết, gửi ai | Mục đích chính | Văn bản tiêu biểu |
|---|---|---|---|
| Chiếu | Vua gửi bề tôi, dân chúng | Ban lệnh, công bố chủ trương | Chiếu dời đô, Cầu hiền chiếu |
| Cáo | Vua hoặc thủ lĩnh gửi toàn dân | Tuyên bố một sự kiện trọng đại, trình bày chủ trương | Bình Ngô đại cáo |
| Hịch | Vua, tướng lĩnh, thủ lĩnh gửi tướng sĩ, dân chúng | Cổ động, kêu gọi đấu tranh | Hịch tướng sĩ |
| Biểu | Bề tôi dâng lên vua | Trình bày ý kiến, tạ ơn, chúc mừng, xin việc gì đó | (ít gặp trong SGK phổ thông) |
Mẹo nhớ: chiếu và biểu là hai chiều ngược nhau, một từ ngai vàng đi xuống, một từ dưới dâng lên. Hịch thì nóng, nhắm tới hành động ngay; còn phần đặc điểm riêng của hịch đã có ở bài thể hịch và cách phân biệt với chiếu, cáo.
Cáo cũng do vua chúa ban ra nhưng dùng để công bố một việc lớn; đặc điểm và bố cục của thể cáo thể hiện rõ qua Bình Ngô đại cáo.
Bài tập nhận biết thể chiếu
Câu 1: Vì sao Chiếu dời đô thuộc thể chiếu mà không phải thể hịch?
Đáp án: Người ban là vua Lý Thái Tổ, nội dung là công bố một quyết định của triều đình (dời kinh đô ra Đại La), giọng văn trang trọng, ôn tồn. Bài không nhằm khích lệ tướng sĩ ra trận, không có lời kêu gọi đấu tranh như hịch.
Câu 2: Sắp xếp các ý sau theo đúng trình tự lập luận trong Chiếu dời đô: (a) ưu thế của thành Đại La; (b) tiền lệ dời đô của nhà Thương, nhà Chu; (c) hỏi ý quần thần; (d) hạn chế của việc đóng đô ở Hoa Lư.
Đáp án: (b) → (d) → (a) → (c). Bài đi từ lẽ chung trong sử sách, sang thực tế nước mình, rồi chứng minh nơi chọn mới là xứng đáng, cuối cùng mới nêu ý định và hỏi ý triều thần.
Câu 3: Cầu hiền chiếu có phải là một “mệnh lệnh” không, vì sao?
Đáp án: Về thể loại, đó vẫn là chiếu, tức lời ban xuống của vua. Nhưng vì đối tượng là hiền tài, cách nói nghiêng hẳn về thuyết phục và mời gọi: lời lẽ khiêm tốn, nhiều hình ảnh, điển cố, chỉ ra cách cụ thể để người tài ra giúp nước. Có thể gọi đây là mệnh lệnh khoác hình thức lời thỉnh cầu.
Câu 4: Trong các văn bản sau, văn bản nào do bề dưới gửi lên vua: chiếu, cáo, biểu, hịch?
Đáp án: Biểu. Ba thể còn lại đều đi từ người có quyền (vua, chủ tướng, thủ lĩnh) tới người nghe ở dưới.
Một chi tiết đáng nhớ khi viết bài: trong Chiếu dời đô, chữ “trẫm” vừa xưng uy quyền, vừa đi kèm lời vua tự nhận mình rất đau xót khi nói về những triều đại ngắn ngủi. Chính chỗ vua tự bộc lộ cảm xúc ấy là dẫn chứng đắt nhất cho ý “lời chiếu vừa có lí vừa có tình”.
Thể chiếu qua mấy câu hay gặp trong đề
Chiếu là gì trong văn học?
Trong văn học, chiếu là một thể văn nghị luận trung đại, văn bản nhà vua dùng để ban lệnh hoặc công bố chủ trương lớn. Cần tách nó khỏi nghĩa đời thường của chữ “chiếu” (chiếu cói để trải nằm, hay “chiếu” trong chiếu sáng, chiếu phim).
Thể loại chiếu viết bằng văn vần hay văn xuôi?
Cả hai đều được, thêm cả lối biền ngẫu nữa. Chiếu dời đô có nhiều vế câu đối xứng nhưng vẫn mang dáng một bài văn xuôi chữ Hán.
Đặc điểm của thể chiếu gồm những gì?
Gồm bốn điểm: người ban là vua; nội dung là việc hệ trọng của quốc gia; lập luận chặt, có dẫn chứng; giọng điệu trang nghiêm, có thể kết hợp tình cảm. Thiếu dấu hiệu “lời của vua” thì không gọi là chiếu.
Ngoài Chiếu dời đô còn bài chiếu nào nổi tiếng?
Trong chương trình phổ thông, bài hay được học nhất sau Chiếu dời đô là Cầu hiền chiếu do Ngô Thì Nhậm viết thay vua Quang Trung. Lịch sử còn nhiều tờ chiếu khác, nhưng ít khi xuất hiện trong sách giáo khoa.