Thể cáo là một thể văn nghị luận cổ, bắt nguồn từ văn chương Trung Hoa, được vua chúa hay người đứng đầu dùng để công bố một chủ trương, tổng kết một sự nghiệp hoặc tuyên bố một sự kiện hệ trọng cho toàn dân cùng biết. Bài cáo phần nhiều viết bằng văn biền ngẫu, giọng trang trọng, đanh thép. Ở Việt Nam, khi hỏi “cáo là gì” trong giờ Văn, ví dụ quen thuộc nhất là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.
| Khái niệm | Thể văn nghị luận trung đại dùng để tuyên bố, công bố việc lớn của đất nước |
| Chữ Hán | 誥 (cáo): bên trái là bộ ngôn 言 (lời nói) |
| Thuộc | Văn chính luận trung đại, cùng nhóm với chiếu, hịch, biểu |
| Dấu hiệu nhận biết | Người đứng tên là vua hoặc thủ lĩnh; văn biền ngẫu; lập luận chặt; giọng tuyên bố trang trọng |
| Học ở | Ngữ văn 10 (Bình Ngô đại cáo); sách Ngữ văn 8 chương trình cũ có đoạn Nước Đại Việt ta |

Chữ cáo trong thể cáo nghĩa là gì?
Chữ cáo của thể văn này viết là 誥, gồm bộ ngôn chỉ lời nói và chữ 告 chỉ việc báo cho biết. Từ điển Thiều Chửu giảng nghĩa đầu tiên là “bảo”, theo hướng trên bảo xuống dưới, và một nghĩa khác là bài văn răn bảo. Từ điển Trần Văn Chánh cũng ghi nghĩa bài răn bảo, bài cáo, tức chỉ thị của vua. Trong Kinh Thư đã có những thiên mang chữ này, như Tửu cáo là lời vua truyền răn việc rượu chè.
Như vậy, ngay từ mặt chữ, cáo đã là lời người ở trên nói với muôn người ở dưới, nhằm cho mọi người cùng biết một điều quan trọng. Theo thời gian, nó thành một thể văn riêng trong nhóm văn bản hành chính – chính luận của triều đình. Sách Ngữ văn và tài liệu ôn tập gặp nhau ở mấy ý: cáo thuộc văn nghị luận, ra đời từ rất sớm bên Trung Hoa; người dùng là bậc đế vương hay người cầm đầu một phong trào; việc của nó là bày tỏ chủ trương, tổng kết công cuộc đã làm, hoặc báo cho thiên hạ một biến cố lớn.
Đừng nhầm với những từ cùng âm như con cáo, cáo phó, cáo trạng, cáo lui. Các từ này dùng chữ khác hoặc nghĩa khác, không liên quan tới thể văn.
Năm nét nhận diện một bài cáo
Đặc điểm của thể cáo có thể gom vào năm nét dưới đây; một bài cáo tiêu biểu thường có đủ cả năm.
- Người đứng tên có quyền lực tối cao. Bài cáo nói bằng danh nghĩa vua hoặc thủ lĩnh. Người cầm bút có thể là người khác: Nguyễn Trãi soạn Bình Ngô đại cáo thay lời Lê Lợi.
- Mục đích tuyên bố, công bố. Khác lời kêu gọi, bài cáo thường xuất hiện khi việc lớn đã xong hoặc đã quyết, để thông báo kết quả và ý nghĩa của nó.
- Văn biền ngẫu là chủ yếu. Về lí thuyết, bài cáo viết theo lối nào cũng được, có vần hay không vần đều có, song phổ biến nhất vẫn là lối biền ngẫu: các vế câu đi thành cặp, đối nhau, dài ngắn không gò bó, có thể có vần hoặc không.
- Lập luận chặt, có hệ thống. Thường đi từ một chân lí, một nguyên tắc chung, sang thực tế để chứng minh, rồi rút ra kết luận. Lí lẽ dựa vào lẽ phải và lịch sử.
- Giọng trang trọng, đanh thép, có lúc hào sảng. Vì là lời của quốc gia, giọng văn không cho phép sự xuề xòa; khi kể chiến công thì hào hùng, khi tuyên bố hòa bình thì trịnh trọng.
Lối văn biền ngẫu cũng gặp trong hịch, chiếu, phú. Vì thế, chỉ dựa vào câu đối nhau thì chưa đủ để gọi tên thể cáo; phải xét thêm mục đích và hoàn cảnh ra đời.
Bình Ngô đại cáo: bốn phần của một bài cáo mẫu mực
Bình Ngô đại cáo (平吳大誥) được Nguyễn Trãi soạn bằng chữ Hán vào năm 1428, thay lời Lê Lợi báo cho cả nước biết quân Minh đã bại và Đại Việt đã giành lại độc lập. Chữ đại nghĩa là lớn: đây là bài cáo lớn, về một việc lớn. Học sinh đọc bài qua bản dịch của Ngô Tất Tố. Kết cấu bài thường được chia bốn phần.
Phần một: nêu nguyên lí chính nghĩa
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Bài cáo không mở bằng chiến công mà bằng một nguyên lí: nhân nghĩa là làm cho dân yên, muốn yên dân phải trừ kẻ bạo ngược. Ngay sau đó là lời khẳng định Đại Việt có văn hiến, bờ cõi, phong tục, triều đại riêng:
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Đây là cách lập luận điển hình của thể cáo: đặt “tiền đề” trước, mọi phần sau đều dựa vào đó. Sách Ngữ văn 8 chương trình cũ tách đoạn này thành bài riêng, xem bài soạn đoạn trích Nước Đại Việt ta.
Phần hai: vạch tội kẻ thù
Nguyễn Trãi kể tội quân Minh: thừa lúc nhà Hồ làm lòng dân oán hận mà sang cướp nước, rồi bóc lột, tàn sát dân lành. Lời văn như một bản cáo trạng, câu dài dồn dập, hình ảnh dữ dội, nhằm chứng minh kẻ thù đã đi ngược nhân nghĩa.
Phần ba: kể quá trình khởi nghĩa
Từ những ngày đầu gian khổ ở Lam Sơn, lương cạn, quân ít, đến các trận thắng liên tiếp và sự thảm bại của viện binh giặc. Giọng văn chuyển dần từ trầm lắng sang hào hùng, nhịp câu nhanh dần như tiếng trống trận.
Phần bốn: tuyên bố kết thúc, mở ra thời bình
Bài cáo khép lại bằng lời tuyên bố đất nước từ nay yên ổn, độc lập vững bền, và rút ra bài học từ những năm tháng gian lao. Đây đúng là chức năng “công bố cho mọi người cùng biết” của thể cáo. Đọc toàn bộ phân tích trong bài soạn Bình Ngô đại cáo lớp 10.
Vì nội dung khẳng định chủ quyền và văn hiến dân tộc, nhiều tài liệu xếp tác phẩm vào hàng “tuyên ngôn độc lập” của dân tộc, nối tiếp Nam quốc sơn hà.
Cáo đứng ở đâu giữa chiếu, hịch và tuyên ngôn?
Cả ba thể chiếu, hịch, cáo đều là văn nghị luận trung đại, thường viết bằng chữ Hán và lối biền ngẫu. Điểm khác dễ nhớ nhất nằm ở thời điểm và mục đích:
| Thể | Thường ra đời khi | Để làm gì |
|---|---|---|
| Chiếu | Vua cần quyết một việc | Ban bố mệnh lệnh, chủ trương (Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn) |
| Hịch | Trước hoặc trong cuộc chiến | Cổ động, kêu gọi hành động |
| Cáo | Sau khi việc lớn hoàn thành hoặc được quyết định | Tổng kết, công bố, tuyên ngôn |
So với hịch, cáo ít khi thúc giục ai làm gì; nó nói “việc đã như thế, ý nghĩa là thế”. Phần so sánh hịch với cáo, chiếu theo người viết, giọng điệu có sẵn ở bài đặc điểm thể hịch. Còn đặt cạnh văn chính luận hiện đại, bài cáo gần với một bản tuyên ngôn: cùng nêu nguyên lí, đưa bằng chứng, rồi khẳng định lập trường. Có thể đọc thêm về dòng văn ấy ở bài văn chính luận và các thể tiêu biểu.
Bốn câu luyện nhận diện thể cáo
Câu 1: Vì sao Bình Ngô đại cáo được xếp vào thể cáo chứ không phải hịch?
Đáp án: Bài ra đời khi cuộc kháng chiến đã thắng lợi, đứng tên Lê Lợi, nhằm báo cho toàn dân rằng chiến tranh đã khép lại và nước nhà đã độc lập. Bài không nhằm kêu gọi đánh giặc như hịch, nên thuộc thể cáo.
Câu 2: Chỉ ra phép đối trong hai câu “Núi sông bờ cõi đã chia, / Phong tục Bắc Nam cũng khác.”
Đáp án: “Núi sông bờ cõi” đối với “Phong tục Bắc Nam” (lãnh thổ – văn hóa), “đã chia” đối với “cũng khác”. Hai vế cân nhau, cùng chứng minh Đại Việt là một quốc gia riêng, đúng lối biền ngẫu của thể cáo.
Câu 3: Sắp xếp các ý theo trình tự bốn phần của Bình Ngô đại cáo: (a) tuyên bố độc lập, thời bình; (b) tố cáo tội ác giặc Minh; (c) nêu nguyên lí nhân nghĩa và chân lí về nước Đại Việt; (d) kể quá trình khởi nghĩa Lam Sơn.
Đáp án: (c) → (b) → (d) → (a). Trình tự đi từ tiền đề lí luận, sang thực tế tội ác, đến cuộc đấu tranh, cuối cùng là kết luận, phản ánh lối lập luận chặt chẽ của thể cáo.
Câu 4: Nêu hai điểm giống và một điểm khác giữa cáo với tuyên ngôn độc lập thời hiện đại.
Đáp án tham khảo: Giống: cùng là văn chính luận tuyên bố chủ quyền, cùng lập luận bằng nguyên lí chung rồi đến bằng chứng thực tế. Khác: cáo viết bằng chữ Hán, lối biền ngẫu và nhân danh nhà vua; tuyên ngôn hiện đại viết bằng văn xuôi, nhân danh một chính phủ hay một dân tộc.
Cáo, đại cáo và các thể văn cùng thời
Cáo là thể văn gì?
Đó là một thể văn chính luận thời trung đại, dùng để công bố chủ trương hoặc tuyên bố một sự kiện quan trọng của đất nước. Phần lớn các bài cáo viết bằng chữ Hán theo lối biền ngẫu.
Bố cục của một bài cáo gồm mấy phần?
Không có khuôn cứng, nhưng bài cáo thường đi theo mạch: nêu nguyên lí, đưa thực tế để chứng minh, rồi kết luận, tuyên bố. Bình Ngô đại cáo được chia bốn phần: luận đề chính nghĩa, tội ác giặc, quá trình khởi nghĩa, lời tuyên bố.
Cáo và hịch khác nhau thế nào?
Hịch dùng để kêu gọi, giục giã người nghe hành động, giọng khích lệ. Cáo dùng để tuyên bố, tổng kết, giọng trang trọng và đĩnh đạc. Hịch thường ra đời trước trận đánh, cáo thường ra đời sau khi việc lớn đã xong.
Vì sao gọi là “Bình Ngô đại cáo”?
“Bình Ngô” là dẹp yên giặc Ngô, cách người xưa gọi quân Minh; “đại cáo” là bài cáo lớn. Gộp lại, nhan đề là bài cáo lớn báo tin quân giặc đã bị đánh tan. Ở một số sách, tên bài được ghi là Đại cáo bình Ngô.