Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người là yêu cầu hay gặp vì bài thơ của Xuân Quỳnh có yếu tố tự sự rõ nét: các sự vật, con người lần lượt “ra đời” theo một trình tự như trong truyện cổ tích. Bài thơ in trong tập Lời ru trên mặt đất (1978), được học ở Bài 2 “Gõ cửa trái tim”, sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức. Dưới đây là 7 mẫu tóm tắt từ ngắn nhất đến chi tiết, có cả mẫu theo bố cục và mẫu kể bằng lời nhân vật.
Trình tự các sự việc trong bài thơ
Muốn tóm tắt đúng, em cần nhớ thứ tự xuất hiện của sự vật và con người trong bài thơ.

- Thuở đầu tiên: trái đất trụi trần, tối tăm, chỉ có trẻ con.
- Mặt trời mọc lên cho trẻ thấy rõ mọi vật.
- Cây cỏ, hoa, chim, gió, sông, biển, buồm, mây, đường lần lượt ra đời.
- Mẹ sinh ra để yêu thương, chăm sóc, hát ru.
- Bà đến kể chuyện cổ tích.
- Bố có mặt để dạy con nết ngoan và cách nghĩ.
- Chữ viết, bàn ghế, trường lớp, thầy giáo ra đời; thầy dạy bài học đầu tiên về loài người.
Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người ngắn nhất – mẫu 1
Thuở xa xưa, trẻ con là những người đầu tiên có mặt trên trái đất. Vì các em mà thiên nhiên, mẹ, bà, bố và cả trường lớp, thầy giáo lần lượt xuất hiện để thương yêu, nâng đỡ, dạy bảo các em.
Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người ngắn gọn – mẫu 2
Ngày đầu tiên, trái đất tối om, không cây không cỏ, chỉ có trẻ con. Để trẻ thấy đường, mặt trời mọc lên; để trẻ có màu sắc, âm thanh, cỏ cây, hoa, chim, sông, biển lần lượt có mặt. Trẻ cần được thương yêu nên có mẹ, cần nghe chuyện nên có bà, cần hiểu biết nên có bố. Sau cùng là mái trường và người thầy dạy trẻ những con chữ đầu tiên.
Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người bằng một đoạn văn – mẫu 3
Theo lời bài thơ, thuở trời đất còn hoang sơ, trái đất trơ trụi và chìm trong bóng tối, trời sinh ra trẻ con trước tất cả. Mắt các em tinh tường mà chẳng thấy được gì, nên mặt trời phải nhô lên soi sáng. Tiếp đó, thế giới thiên nhiên dần hiện ra: cỏ cây xanh tươi, hoa nở, chim hót, gió đưa âm thanh, sông cho trẻ tắm, biển cho cá tôm và những cánh buồm, mây che bóng mát, đường cho trẻ đi xa. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, trẻ còn cần tình yêu, nên người mẹ xuất hiện với vòng tay và lời ru; người bà đến với kho chuyện cổ tích kể mãi không hết; người bố ra đời để dạy con biết ngoan, biết nghĩ và hiểu về thế giới rộng lớn. Cuối cùng, chữ viết, trường lớp và thầy giáo có mặt, và bài học đầu tiên thầy viết lên bảng là chuyện về loài người.
Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người theo bố cục – mẫu 4
Phần 1 – Thuở sơ khai: Trái đất không cây cỏ, không mặt trời, chỉ một màu đen; trẻ con là những sinh linh đầu tiên.
Phần 2 – Thiên nhiên ra đời: Mặt trời giúp trẻ nhìn thấy; cây cỏ, hoa, chim, gió, sông, biển, mây, đường lần lượt xuất hiện để thế giới của trẻ có màu sắc, âm thanh, có nơi vui chơi, có lối đi.
Phần 3 – Gia đình ra đời: Mẹ chăm bẵm và ru con bằng những lời hát từ đồng quê; bà đem đến bao chuyện cổ về người hiền, kẻ ác; bố dạy con nết ngoan, cách nghĩ và những hiểu biết đầu tiên về biển, núi, trái đất.
Phần 4 – Xã hội ra đời: Chữ viết, bàn ghế, lớp học, trường học và thầy giáo xuất hiện; thầy viết lên bảng bài học đầu tiên về chuyện loài người.
Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người chi tiết – mẫu 5
Ngày trời đất mới hình thành, trên trái đất trơ trụi chỉ có những đứa trẻ. Không có một cái cây, một ngọn cỏ; không có mặt trời, bốn bề tối mịt một màu, chưa hề có sắc màu nào khác.
Mắt trẻ tinh anh mà vẫn chưa thấy được vật gì, bởi vậy mặt trời nhô lên cho các em nhìn rõ mọi vật. Từ đó, sắc xanh xuất hiện nơi cỏ, nơi cây; cây thì cao chừng gang tay, ngọn cỏ mảnh như sợi tóc, bông hoa nhỏ như chiếc cúc. Màu đỏ làm nên những bông hoa, chim chóc ra đời để cất tiếng hót, gió mang âm thanh đi khắp nơi. Sông bắt đầu chảy để trẻ được tắm mát; biển xuất hiện, cho cá tôm, cho những cánh buồm đưa trẻ đi xa. Mây che bóng mát, và đường cũng có từ ngày ấy để trẻ bước đi.
Thế giới đẹp như vậy nhưng trẻ vẫn còn thiếu tình yêu và lời ru, nên người mẹ có mặt để ẵm bồng, nâng niu. Mẹ hát cho con nghe những lời ru dệt từ hình ảnh quen thuộc của làng quê: cái bống cái bang, bông hoa thơm, cánh cò trắng, vị gừng cay, cơn mưa đầu nguồn, bãi sông vắng. Trẻ lại khao khát được biết chuyện ngày xưa và ngày sau, thế là bà xuất hiện. Bà tóc bạc mà mắt vui, kể cho cháu bao chuyện cổ tích về nàng tiên, cô Tấm hiền lành, Lý Thông độc ác, kể suốt đời cũng không hết chuyện.
Để trẻ hiểu biết, người bố ra đời. Bố dạy con biết ngoan, biết suy nghĩ, cho con biết biển thì rộng, đường thì dài, núi xanh và xa, còn trái đất có hình tròn. Cuối cùng, chữ viết được sinh ra trước, rồi đến bàn, ghế, lớp học, trường học và thầy giáo. Tấm bảng to như chiếc chiếu, viên phấn làm từ đá, và thầy viết thật to lên bảng bài học đầu tiên: chuyện về loài người.
Tóm tắt bài thơ bằng lời một em bé – mẫu 6
Bà kể rằng ngày xưa, khi chưa có gì cả, chúng em – những đứa trẻ – là người đầu tiên có mặt trên trái đất. Hồi ấy tối lắm, chẳng nhìn thấy gì. Rồi ông mặt trời mọc lên, em thấy cỏ xanh, cây xanh, hoa đỏ, nghe chim hót, gió reo. Có sông cho em tắm, có biển, có thuyền buồm, có đường cho em đi chơi. Em cần được ôm ấp nên có mẹ hát ru em ngủ. Em thích nghe chuyện nên có bà kể chuyện cô Tấm, chuyện Lý Thông. Em cần biết nhiều điều nên có bố dạy em ngoan, dạy em nghĩ. Rồi em được đến trường, gặp thầy giáo, và bài học đầu tiên của em là chuyện loài người.
Tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người theo ý nghĩa – mẫu 7
Bằng giọng kể cổ tích, Xuân Quỳnh tưởng tượng trẻ em là những người có mặt đầu tiên trên trái đất. Mọi thứ sau đó đều ra đời vì trẻ: thiên nhiên mang đến ánh sáng, màu sắc, âm thanh, không gian vui chơi; gia đình với mẹ, bà, bố mang đến tình yêu thương, những câu chuyện cổ và sự dạy dỗ; nhà trường với thầy giáo mang đến chữ viết và tri thức. Qua câu chuyện ấy, nhà thơ muốn nói: trẻ em là nơi mọi yêu thương hướng về, các em xứng đáng được vun đắp bằng tất cả những gì tốt đẹp nhất.
Kết luận
Khi tóm tắt Chuyện cổ tích về loài người, em cần giữ đúng thứ tự: trẻ con – thiên nhiên – mẹ – bà – bố – trường lớp, thầy giáo. Với bài tóm tắt ngắn, chỉ cần nêu bốn chặng; bài dài có thể thêm các hình ảnh miêu tả để giữ được không khí trong trẻo của bài thơ.
Xem thêm: