Chùm thơ hai-cư Nhật Bản là văn bản đọc mở đầu Bài 2 “Vẻ đẹp của thơ ca” trong sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức (tập một, trang 45–46). Chùm thơ gồm ba bài của ba nhà thơ thời Edo: Mát-chư-ô Ba-sô, Chi-ô và Cô-ba-y-a-si Ít-sa. Bài viết dưới đây tổng hợp những gì cần nắm trước giờ học: nội dung từng bài, tiểu sử ba tác giả, đặc điểm thể thơ hai-cư, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Chùm thơ hai-cư Nhật Bản
Mỗi bài hai-cư trong nguyên tác tiếng Nhật chỉ có 17 âm tiết. Sách giáo khoa in bản dịch tiếng Việt thành ba dòng ngắn. Vì các bản dịch này còn trong thời hạn bảo hộ, bài viết chỉ trích hai bài; bài của Chi-ô được giới thiệu qua nguyên tác và phần dịch nghĩa. Em có thể đọc đủ ba bản dịch cùng phần trả lời câu hỏi trong bài soạn bài Chùm thơ hai-cư Nhật Bản.

Bài 1 – Mát-chư-ô Ba-sô
Trên cành khô
cánh quạ đậu
chiều thu.
Nguyên tác: 枯朶に烏のとまりけり秋の暮 (đọc: kareeda ni / karasu no tomarikeri / aki no kure). Chỉ ba hình ảnh đặt cạnh nhau – cành cây trụi lá, một con quạ đen, buổi chiều cuối thu – nhưng đủ gợi một khoảng không vắng lặng, cô tịch. Nhà thơ không nói mình buồn, người đọc tự cảm thấy nỗi hiu quạnh lan ra từ cảnh vật.
Bài 2 – Chi-ô
Nguyên tác: 朝顔に つるべ取られて もらい水 (đọc: asagao ni / tsurube torarete / moraimizu). Dịch nghĩa (tự dịch để hiểu ý): Hoa triêu nhan – dây leo đã quấn lấy chiếc gàu – đành đi xin nước. Sáng sớm ra giếng, nhân vật trữ tình bắt gặp dây hoa triêu nhan (hoa bìm bìm, loài hoa nở buổi sáng) quấn quanh sợi dây gàu. Không nỡ gỡ hoa để kéo nước, người ấy sang “xin nước nhà bên”. Theo tài liệu Nhật Bản, về sau Chi-ô chỉnh câu mở đầu thành asagao ya, dùng chữ ya để ngắt lời như một tiếng reo trước vẻ đẹp của hoa; bản dịch SGK cũng mở đầu bằng một câu cảm thán.
Bài 3 – Cô-ba-y-a-si Ít-sa
Chậm rì, chậm rì
kìa con ốc nhỏ
trèo núi Fu-ji
Nguyên tác: 蝸牛そろそろ登れ富士の山 (đọc: katatsumuri / sorosoro nobore / Fuji no yama). Con ốc bé xíu đặt cạnh ngọn núi cao nhất Nhật Bản tạo nên tương phản giữa cái cực nhỏ và cái cực lớn. Hành trình “chậm rì” ấy gợi đến sự kiên nhẫn, bền bỉ của con người trên con đường chinh phục những mục tiêu lớn. Trong nguyên tác, động từ ở dạng lời nhủ (nobore – hãy trèo lên), nên bài thơ còn phảng phất giọng trìu mến, khích lệ của nhà thơ với con vật nhỏ.
Thông tin tác giả: Ba-sô, Chi-ô, Ít-sa
Ba tác giả trong chùm thơ đều sống ở thời Edo (1603–1867), giai đoạn thơ hai-cư phát triển rực rỡ nhất.
Mát-chư-ô Ba-sô (1644 – 1694)
Ba-sô (Matsuo Bashō) sinh năm 1644 gần thị trấn Ueno, xứ Iga (nay thuộc tỉnh Mie), trong một gia đình có gốc võ sĩ. Khi chuyển tới sống ở Fukagawa (Edo), học trò dựng cho ông một căn lều và trồng trước sân một cây chuối (tiếng Nhật là bashō) – từ đó ông lấy tên cây làm bút hiệu. Ông nhiều lần làm những chuyến du hành dài, ghi lại bằng nhật kí xen thơ, nổi tiếng nhất là Lối lên miền Ô-ku (Oku no Hosomichi). Ba-sô mất năm 1694 ở Ô-xa-ca trong một chuyến đi.
Ba-sô được xem là bậc thầy lớn nhất của thơ hai-cư. Ông có công nâng câu thơ mở đầu của lối thơ liên ca (hokku) thành một thể thơ độc lập, giàu chất thiền, lấy cái vắng lặng, đơn sơ, tịch liêu làm vẻ đẹp.
Chi-ô (1703 – 1775)
Chi-ô (Kaga no Chiyo, còn gọi Fukuda Chiyo-ni) sinh năm 1703 ở Mát-tô, xứ Ka-ga (nay thuộc tỉnh Ishikawa). Bà làm thơ từ nhỏ, về già xuống tóc đi tu nên thường được gọi là ni cô Chi-ô. Tương truyền bà để lại khoảng 1.700 bài hai-cư, trong đó bài thơ về hoa triêu nhan và gàu nước là bài nổi tiếng nhất; hoa triêu nhan về sau được chọn làm biểu tượng của quê hương bà.
Theo SGK, Chi-ô là người đánh dấu sự hiện diện của các tác giả nữ trong truyền thống thơ hai-cư. Trước bà, thơ hai-cư của phụ nữ thường bị xem nhẹ và dễ bị quên lãng; bà đã tạo được một tiếng nói riêng, được nhiều người yêu thích.
Cô-ba-y-a-si Ít-sa (1763 – 1828)
Ít-sa (Kobayashi Issa) sinh năm 1763 trong một gia đình nông dân ở Kashiwabara, xứ Shinano (nay thuộc tỉnh Nagano). Mẹ mất khi ông mới ba tuổi, tuổi thơ lại không êm ấm với người mẹ kế, nên ông sớm rời quê lên Edo, sống cuộc đời nhiều lận đận. Ông mất đầu năm 1828 (theo âm lịch là cuối năm 1827, nên nhiều sách ghi năm mất 1827).
Ít-sa là nhà thơ kiêm tu sĩ Phật giáo và là họa sĩ tài hoa, nổi tiếng với những bức tranh có đề thơ hai-cư của chính mình. Ông được xếp cùng Ba-sô, Bu-sôn và Si-ki vào nhóm bốn bậc thầy thơ hai-cư. Thơ ông gần gũi, giàu lòng thương với những sinh linh bé nhỏ như con ốc, con ếch, con ruồi. Bút hiệu Ít-sa (一茶) có nghĩa là một chén trà.
Thông tin tác phẩm Chùm thơ hai-cư Nhật Bản
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi học sinh hay gặp khi chuẩn bị bài.
Chùm thơ hai-cư Nhật Bản in ở đâu?
Văn bản in trong SGK Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập một, Bài 2 “Vẻ đẹp của thơ ca”, gồm ba bài hai-cư của Ba-sô, Chi-ô và Ít-sa. Đọc cùng bài với chùm thơ là Thu hứng của Đỗ Phủ.
Hoàn cảnh ra đời của các bài thơ
Cả ba bài ra đời trong thời Edo, khi thơ hai-cư (lúc đó còn gọi là hokku) đã tách khỏi thơ liên ca để thành những bài thơ độc lập. Đến cuối thế kỉ XIX, nhà thơ Ma-sa-ô-ka Si-ki mới đặt tên gọi haiku cho thể thơ này. Mỗi bài ghi lại một khoảnh khắc cụ thể nhà thơ bắt gặp: một chiều thu, một buổi sáng bên giếng nước, một lần nhìn con ốc bò.
Thơ hai-cư là thể thơ gì?
- Hình thức: thể thơ truyền thống ngắn nhất của Nhật Bản, 17 âm tiết chia 5 – 7 – 5; nguyên bản tiếng Nhật thường viết liền một dòng, khi phiên âm hoặc dịch mới tách thành ba dòng. Bản dịch tiếng Việt không giữ được số âm tiết.
- Quý ngữ (kigo): từ chỉ mùa, cho biết thời điểm của bài thơ. Ở chùm thơ này, “chiều thu” báo mùa thu; hoa triêu nhan theo lịch mùa truyền thống cũng thuộc mùa thu; con ốc sên thường gắn với mùa hè.
- Cách biểu hiện: gợi nhiều hơn tả, dùng những hình ảnh bình dị, trong sáng mà giàu tính tượng trưng, để lại nhiều khoảng trống cho người đọc tự cảm nhận.
- Tinh thần: thấm đẫm mĩ cảm Thiền tông, đề cao sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên và sự bình đẳng của vạn vật.
Phương thức biểu đạt
Biểu cảm là chính, kết hợp với miêu tả (phác họa hình ảnh thiên nhiên, sự vật).
Chùm thơ hai-cư Nhật Bản có mấy phần?
Văn bản có ba phần, ứng với ba bài thơ:
- Phần 1 – bài của Ba-sô: hình ảnh con quạ trên cành khô giữa chiều thu.
- Phần 2 – bài của Chi-ô: dây hoa triêu nhan quấn sợi dây gàu bên giếng.
- Phần 3 – bài của Ít-sa: con ốc nhỏ chậm rãi trèo núi Phú Sĩ (Fu-ji).
Hình ảnh trung tâm của cả ba bài đều là những sự vật nhỏ bé, bình thường, gần gũi trong đời sống.
Giá trị nội dung
- Ghi lại những rung cảm tinh tế của con người trước thiên nhiên trong một khoảnh khắc: buổi chiều thu vắng lặng, cành hoa buổi sớm, con ốc trên sườn núi.
- Bài của Ba-sô gợi nỗi cô đơn, tịch liêu; bài của Chi-ô thể hiện thái độ nâng niu cái đẹp mong manh, không nỡ làm tổn thương sự sống; bài của Ít-sa gửi gắm suy ngẫm về sự kiên trì, nỗ lực vươn tới những đỉnh cao.
- Qua đó, chùm thơ cho thấy tâm hồn người Nhật: yêu thiên nhiên, trân trọng những điều giản dị và tìm thấy triết lí sâu xa trong sự vật nhỏ bé.
Giá trị nghệ thuật
- Hình thức cực kì ngắn gọn, hàm súc: lời ít mà ý nhiều.
- Hình ảnh nhẹ nhàng, trong sáng nhưng giàu tính tượng trưng; thủ pháp đặt cạnh, đối lập (cành khô – chiều thu, dây hoa – dây gàu, con ốc – núi Fu-ji).
- Bút pháp chấm phá, gợi mà không tả kĩ; cái tôi nhà thơ ẩn sau cảnh vật, cảm xúc lắng sâu.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề “Chùm thơ hai-cư Nhật Bản” do người biên soạn đặt, cho biết đây là tập hợp các bài thơ cùng thể hai-cư của nhiều tác giả Nhật Bản, giúp học sinh làm quen với một thể thơ nước ngoài độc đáo qua ba phong cách khác nhau.
Sơ đồ tư duy Chùm thơ hai-cư Nhật Bản
Sơ đồ dưới đây gom sáu ý chính: tác giả, thể thơ, bố cục, hình ảnh trung tâm, nội dung và nghệ thuật.

Lời kết
Để học tốt Chùm thơ hai-cư Nhật Bản, em cần nắm được đặc trưng của thể thơ (17 âm tiết, quý ngữ, lối gợi), nhận ra hình ảnh trung tâm của từng bài và cảm xúc, triết lí mà mỗi bài gửi gắm. Khi viết đoạn văn, hãy bám vào mối quan hệ giữa các hình ảnh trong từng bài thay vì diễn giải quá xa.
Xem thêm:
- Soạn bài Chùm thơ hai-cư Nhật Bản (Kết nối tri thức)
- Phân tích thơ hai-cư của Ba-sô
- Thơ Haiku: đặc điểm và những bài tiêu biểu
- Tóm tắt bài thơ Thu hứng (Đỗ Phủ)
- Giới thiệu tác giả Ba-sô (Matsuo Bashō): bậc thầy thơ hai-cư Nhật Bản