Suy diễn là đi từ những điều chung đã biết (một nguyên lí, một quy luật) để rút ra kết luận cho một trường hợp riêng. Đó là nghĩa của logic học, đối lập với quy nạp. Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, từ này còn một nghĩa khác hẳn: tự đoán ra đủ thứ chuyện theo ý mình, như khi ai đó bị trách “đừng suy diễn lung tung”.
| Nghĩa ngắn | Rút kết luận riêng từ tiền đề chung; trong khẩu ngữ là đoán ra chuyện theo ý chủ quan |
| Gốc từ | Hán Việt 推演: suy (đẩy, xét tìm) + diễn (kéo ra, bày ra) |
| Loại từ | Động từ; “phép suy diễn”, “lối suy diễn” là cách dùng như danh từ |
| Đồng nghĩa gần | Diễn dịch (nghĩa logic); đoán mò, suy bụng ta ra bụng người (nghĩa khẩu ngữ) |
| Trái nghĩa | Quy nạp |

Suy diễn: từ cái chung đến cái riêng
Ví dụ quen thuộc nhất trong sách logic có ba vế. Mọi người đều phải chết. Socrates là người. Vậy Socrates phải chết. Hai câu đầu là tiền đề, câu cuối là kết luận. Chỗ hay của phép suy diễn nằm ở đây: nếu tiền đề đúng và cách suy hợp lệ thì kết luận chắc chắn đúng, không cần đi kiểm từng người.
Học trò dùng lối nghĩ này hằng ngày mà không gọi tên. Biết rằng số chia hết cho 9 thì tổng các chữ số cũng chia hết cho 9, nhìn số 7.218 là đoán ngay nó chia hết cho 9 (7 + 2 + 1 + 8 = 18). Quy tắc chung có trước, trường hợp cụ thể đến sau.
Nghĩa thứ hai thì ngược tinh thần đó. Khi người ta nói “anh ấy hay suy diễn“, ý là anh ấy lấy một chi tiết nhỏ rồi tự kéo ra cả câu chuyện dài, không có căn cứ. Bạn nhắn tin không trả lời, thế là nghĩ bạn giận mình; sếp nhíu mày, thế là đoán mình sắp bị phê bình. Từ điển ghi nét nghĩa này là khẩu ngữ, mang ý chê.
推演: đẩy ý đi và kéo nó dài ra
Chữ suy (推) có nghĩa gốc là đẩy, rồi chuyển sang nghĩa xét tìm, suy tính kĩ. Trần Văn Chánh giảng một nét nghĩa của nó là suy tìm, suy cứu, tức lần theo manh mối cho ra lẽ. Cùng họ với nghĩa suy xét có suy luận, suy lí, suy đoán, suy tính.
Chữ diễn (演) theo Thiều Chửu là “diễn ra”: nhân cái này mà được cái kia, theo lẽ tự nhiên mà suy rộng. Ví dụ ông nêu là từ tám quẻ mà diễn ra sáu mươi bốn quẻ. Chữ diễn ấy còn ở trong diễn giải, diễn dịch, diễn thuyết.
Ghép lại, suy diễn là đẩy một ý đã có đi tiếp, kéo nó ra thành điều mới. Hình ảnh ấy giải thích được cả hai nghĩa: đẩy đúng đường thì thành lập luận chặt, đẩy quá tay thì thành chuyện thêu dệt.
Đặt suy diễn cạnh quy nạp và suy đoán
| Từ | Đi theo chiều nào | Độ chắc của kết luận |
|---|---|---|
| Suy diễn | Từ quy luật chung đến trường hợp riêng | Chắc chắn, nếu tiền đề đúng |
| Quy nạp | Từ nhiều trường hợp riêng khái quát thành quy luật | Chỉ là khả năng cao; một phản ví dụ có thể lật đổ |
| Suy luận | Tên chung cho việc rút kết luận từ điều đã biết | Tùy kiểu suy luận |
| Suy đoán | Dựa vào vài dấu hiệu để đoán | Thấp, cần kiểm lại |
Quy nạp là người nông dân thấy nhiều năm liền chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bèn đúc thành câu tục ngữ. Suy diễn là chiều ngược lại: đã tin câu tục ngữ ấy, chiều nay thấy chuồn chuồn bay thấp thì đi cất quần áo. Kết luận của suy diễn chỉ đáng tin bằng tiền đề của nó; tiền đề sai mà cách suy vẫn trơn tru thì càng dễ lừa người nghe, và đó là chỗ nhiều kiểu lập luận nghe xuôi tai mà sai gốc hay khai thác.
Còn suy diễn theo nghĩa khẩu ngữ thì gần với suy bụng ta ra bụng người, với đoán mò, thêu dệt. Muốn nói nhẹ hơn, có thể dùng “hiểu quá ý” hoặc “nghĩ xa quá”.
Lập luận diễn dịch trong bài văn nghị luận
Trong giờ Ngữ văn, phép suy diễn hiện ra dưới tên diễn dịch. Đoạn văn diễn dịch đặt câu chủ đề ở đầu, các câu sau triển khai, chứng minh cho nó. Viết theo lối này, người đọc biết ngay đoạn văn muốn nói gì, rồi theo dõi lí lẽ và dẫn chứng đến sau. Muốn đoạn diễn dịch không gãy, câu chủ đề phải là một nhận định đứng được, và mỗi câu sau phải thật sự đỡ lấy nó; cách sắp xếp ấy được giảng kĩ ở bài dựng luận điểm và chọn luận cứ đỡ cho nó.
Đặt cạnh đó, đoạn quy nạp đi theo chiều ngược lại: kể các dẫn chứng trước, đến cuối mới chốt câu chủ đề. Hai lối không lối nào hơn lối nào; đoạn mở bài và đoạn nêu luận điểm thường hợp diễn dịch, đoạn kết thường hợp quy nạp.
Có một lỗi học trò hay mắc khi viết nghị luận: từ một dẫn chứng đơn lẻ rút ra kết luận cho cả một thế hệ, kiểu “một bạn chơi game cả đêm, vậy giới trẻ lười học”. Đó không phải suy diễn trong logic, mà là suy diễn theo nghĩa khẩu ngữ, tức kết luận vượt quá điều dẫn chứng chống đỡ được.
Mấy tình huống dùng chữ suy diễn
Suy diễn lung tung là gì?
Là tự nghĩ ra đủ chuyện từ một chi tiết nhỏ, không có căn cứ. Câu này thường dùng để can ai đó đang lo xa hoặc đang hiểu sai ý người khác: “Cô ấy chỉ bận thôi, đừng suy diễn lung tung.”
Phương pháp suy diễn khác phương pháp quy nạp thế nào?
Suy diễn đi từ quy luật chung xuống trường hợp riêng, kết luận chắc chắn nếu tiền đề đúng. Quy nạp đi từ nhiều trường hợp riêng lên quy luật chung, kết luận chỉ có tính khả năng. Khoa học dùng cả hai: quy nạp để tìm giả thuyết, suy diễn để rút hệ quả rồi đem kiểm.
Suy diễn tiếng Anh là gì?
Động từ là deduce, danh từ deduction, lối suy diễn gọi là deductive reasoning. Với nghĩa đoán mò, tiếng Anh hay nói read too much into something (hiểu quá lên).
Suy diễn có phải là tư duy logic không?
Theo nghĩa logic học thì có, đây là một trong những thao tác căn bản của lối nghĩ chặt chẽ, bên cạnh phân tích, so sánh, khái quát mà bài giải thích chữ tư duy theo gốc Hán có nhắc tới. Theo nghĩa khẩu ngữ thì ngược lại, nó chỉ lối nghĩ thiếu căn cứ.