Nhan đề là tên đặt cho một tác phẩm, một cuốn sách hay một bài viết, thường gợi ra nội dung chính hoặc dụng ý của người viết. Trong giờ Ngữ văn, câu hỏi “nhan đề là gì” hay đi liền với một câu khó hơn: nhan đề ấy có ý nghĩa gì. Nhan đề còn được gọi là tựa đề, tên tác phẩm; tiếng Anh là title.
| Khái niệm | Tên gọi của một tác phẩm, bài thơ, bài báo, cuốn sách hay luận văn |
| Nghĩa thường gặp | Cái tên nói lên nội dung chính hoặc gợi ra điều tác giả muốn gửi gắm |
| Thuộc | Danh từ Hán Việt; trong văn học là yếu tố hình thức đầu tiên của văn bản |
| Dấu hiệu nhận biết | Đứng ở đầu văn bản, tách riêng, thường ngắn và in đậm hoặc in lớn |
| Từ gần nghĩa | Tựa đề, tên sách, đầu đề, tiêu đề |

Nhan đề theo từ điển và theo cách hiểu trong giờ văn
Từ điển tiếng Việt giảng nhan đề là danh từ, chỉ cái tên nói lên nội dung chính của một tác phẩm hoặc một luận văn. Ví dụ: cuốn tiểu thuyết có nhan đề rất lạ, đổi nhan đề trước khi in. Đây là từ dùng trong văn viết, trang trọng hơn chữ “tên truyện” hay “tên bài” ta vẫn nói hằng ngày.
Khi học văn, nhan đề được nhìn kĩ hơn. Nó là lời đầu tiên tác giả nói với người đọc, trước cả câu mở đầu. Một cái tên có thể chỉ thẳng nhân vật, có thể gọi tên một vùng đất, cũng có thể chỉ là một hình ảnh mà phải đọc đến dòng cuối mới thấy hết nghĩa. Vì thế đề bài hay yêu cầu “nêu ý nghĩa nhan đề”: học sinh phải nối cái tên với nội dung, nhân vật và thông điệp của cả văn bản.
Một nhan đề thường làm được những việc gì
Không phải nhan đề nào cũng gánh hết các chức năng dưới đây, nhưng một cái tên hay thường làm được ít nhất hai việc.
- Gọi tên đối tượng. Người đọc biết ngay văn bản nói về ai hoặc về cái gì: Lão Hạc, Cô bé bán diêm, Lặng lẽ Sa Pa.
- Tóm nội dung hoặc tình huống. Nhiều nhan đề như một câu tóm tắt rất ngắn: Bài học đường đời đầu tiên nói trước rằng Dế Mèn sẽ phải trả giá cho một sai lầm.
- Gửi gắm thái độ, tư tưởng. Có những cái tên mang sẵn cách nhìn của tác giả, đọc lên đã thấy xót xa hay mỉa mai.
- Gây tò mò. Một nhan đề lạ khiến người ta muốn mở trang đầu. Với báo chí, chức năng này gần như quan trọng nhất.
Một mẹo nhỏ để kiểm tra: đọc xong văn bản, quay lại nhìn cái tên. Nếu lúc này nó gợi ra nhiều điều hơn lúc mới đọc, đó là nhan đề có chiều sâu.
Bốn kiểu đặt tên tác phẩm thường gặp
| Kiểu nhan đề | Đặt theo | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tên nhân vật | Nhân vật chính hoặc biệt danh của nhân vật | Lão Hạc, Chí Phèo, Sọ Dừa |
| Không gian, thời gian | Nơi chốn hoặc thời điểm diễn ra câu chuyện | Lặng lẽ Sa Pa, Chiều tối, Cảnh khuya |
| Sự việc, tình huống | Biến cố chính của truyện | Vợ nhặt, Tức nước vỡ bờ |
| Hình ảnh biểu tượng | Một hình ảnh mang nghĩa ẩn dụ, cần đọc cả bài mới hiểu | Chiếc lá cuối cùng, Chiếc thuyền ngoài xa |
Cách chia này chỉ để dễ nhìn, nhiều nhan đề thuộc hai kiểu cùng lúc. Chiếc thuyền ngoài xa vừa là một hình ảnh thật trong truyện, vừa là biểu tượng cho khoảng cách giữa cái đẹp nhìn từ xa và đời sống thật ở gần.
Đọc ý nghĩa nhan đề qua vài tác phẩm trong sách Ngữ văn
Vợ nhặt: một cái tên nghe đã thấy chua chát
Lấy vợ là việc hệ trọng, phải có mai mối, cưới hỏi. Kim Lân lại ghép chữ “vợ” với chữ “nhặt”, như nhặt một món đồ rơi ngoài đường. Cái tên ấy nói lên cái giá rẻ mạt của con người trong nạn đói năm 1945, đồng thời hé ra điều ấm áp: giữa lúc đói nhất, Tràng vẫn dám đưa người đàn bà xa lạ về làm vợ. Bài soạn truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có câu hỏi riêng về nhan đề này.
Tức nước vỡ bờ: tên đoạn trích mượn từ tục ngữ
Đoạn trích học ở lớp 8 được tách từ tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố, và cái tên được lấy từ câu tục ngữ quen thuộc. Nước dồn mãi thì bờ phải vỡ; người nông dân bị dồn đến đường cùng thì phải vùng lên. Nhan đề vì thế vừa tóm cảnh chị Dậu chống lại cai lệ, vừa nêu luôn quy luật mà tác giả muốn chỉ ra. Xem thêm phần câu hỏi đọc hiểu đoạn chị Dậu đánh cai lệ.
Từ Đoạn trường tân thanh đến Truyện Kiều
Nguyễn Du đặt cho tác phẩm của mình cái tên chữ Hán Đoạn trường tân thanh, nghĩa là tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột. Người đọc về sau quen gọi theo tên nhân vật chính là Truyện Kiều. Hai cái tên cho thấy hai cách nhìn: tên gốc nhấn vào nỗi đau, tên dân gian nhấn vào con người chịu nỗi đau ấy.
Chí Phèo và những lần đổi tên
Truyện của Nam Cao từng mang tên Cái lò gạch cũ, khi in thành sách lần đầu lại ra mắt dưới tên Đôi lứa xứng đôi cho hợp thị hiếu bạn đọc thời ấy, đến lần in lại sau Cách mạng tác giả mới đặt là Chí Phèo. Mỗi cái tên kéo người đọc về một phía: cái lò gạch gợi vòng lặp số phận, “đôi lứa” gợi chuyện tình Chí với Thị Nở, còn tên nhân vật đặt con người bị tha hóa vào trung tâm.
Nhan đề, tiêu đề hay chủ đề: đừng dùng lẫn
| Từ | Nghĩa | Dùng khi nào |
|---|---|---|
| Nhan đề | Tên của cả tác phẩm, cuốn sách, bài viết | Văn học, xuất bản, nghiên cứu |
| Tiêu đề | Dòng tên đặt ở đầu một văn bản hoặc một phần văn bản | Báo chí, văn bản hành chính, email, tiêu đề mục |
| Tựa đề | Gần như đồng nghĩa với nhan đề | Khẩu ngữ, báo chí, nói về phim và bài hát |
| Chủ đề | Vấn đề trung tâm mà tác phẩm đặt ra | Phân tích nội dung, không phải cái tên |
Nhầm thường gặp nhất là coi nhan đề và chủ đề là một. Nhan đề là cái tên nằm trên trang giấy; chủ đề là điều người đọc rút ra sau khi đọc. Hai thứ có thể trùng nhau, cũng có thể cách xa. Về phần này có bài phân biệt chủ đề với đề tài của văn bản, và bài riêng về phạm vi hiện thực mà tác phẩm viết về.
Thử sức: bốn câu về nhan đề kèm đáp án
Câu 1: Nhan đề “Lão Hạc” thuộc kiểu đặt tên nào? Kể thêm hai tác phẩm cùng kiểu.
Đáp án: Đặt theo tên nhân vật chính. Tác phẩm cùng kiểu: Chí Phèo, Sọ Dừa, Thạch Sanh. Kiểu tên này đưa nhân vật lên vị trí trung tâm, báo trước rằng số phận con người ấy là mạch chính của truyện.
Câu 2: Vì sao nói nhan đề “Vợ nhặt” vừa xót xa vừa có ánh sáng?
Đáp án: Xót xa vì chữ “nhặt” cho thấy con người bị rẻ rúng, lấy vợ không cần cưới xin trong nạn đói. Có ánh sáng vì hành động ấy xuất phát từ khát vọng sống và mong có một mái ấm, cho thấy tình người vẫn còn giữa cái chết.
Câu 3: Phân biệt “nhan đề” và “chủ đề” trong câu sau, từ nào dùng sai? “Chủ đề của truyện là Chiếc lá cuối cùng.”
Đáp án: Dùng sai từ “chủ đề”. Chiếc lá cuối cùng là nhan đề. Chủ đề của truyện là tình yêu thương, sự hi sinh âm thầm giữa những con người nghèo khổ và sức mạnh của nghệ thuật chân chính.
Câu 4: Em hãy đặt một nhan đề khác cho truyện “Bài học đường đời đầu tiên” và giải thích lựa chọn.
Đáp án tham khảo: “Dế Mèn và cái chết của Dế Choắt”. Nhan đề này nhắc đến hai nhân vật và biến cố chính, làm rõ hậu quả của thói kiêu căng. Tuy vậy nó kém nhan đề gốc ở chỗ nói hết sự việc, còn tên gốc gợi được ý nghĩa bài học mà Dế Mèn tự rút ra. Muốn luyện thêm, có thể xem dạng bài tự đặt tên rồi sáng tác truyện ngắn ở lớp 8.
Học sinh hay hỏi gì về nhan đề
Nhan đề có nghĩa là gì trong một bài đọc hiểu?
Đó là tên của văn bản. Khi đề hỏi ý nghĩa nhan đề, cần nêu ba ý: nghĩa thực của cái tên, nghĩa ẩn dụ hoặc biểu tượng (nếu có), và dụng ý của tác giả khi chọn tên ấy.
Nhan đề và tiêu đề có giống nhau không?
Gần nghĩa nhưng không hẳn giống. Nhan đề thường dùng cho tác phẩm, sách; tiêu đề dùng rộng hơn, cho bài báo, văn bản, email và cả tên từng mục nhỏ trong một văn bản dài.
Cách nêu ý nghĩa nhan đề sao cho đủ ý?
Đi từ cái tên đến nội dung: cái tên gọi ra ai hoặc cái gì, gắn với chi tiết nào trong truyện, rồi gợi ra thái độ hay thông điệp gì. Cuối cùng nói đến cái hay về nghệ thuật, chẳng hạn tạo tò mò hay tạo tình huống.
Nhan đề tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh dùng title. Phụ đề, tức dòng tên phụ đặt dưới nhan đề chính, là subtitle; tiêu đề một mục nhỏ trong bài là heading.