Vịnh Hạ Long: một kì quan thiên nhiên độc đáo và tuyệt mĩ (theo Thi Sảnh) là văn bản thông tin mở đầu Bài 3 sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập một. Bài viết này tổng hợp những gì em cần nắm trước khi học: nội dung chính, đôi nét về người viết, xuất xứ, thể loại, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Vịnh Hạ Long: một kì quan thiên nhiên độc đáo và tuyệt mĩ
Văn bản mở đầu bằng sự kiện ngày 14/12/1994: tại kì họp thứ 18 ở Phu-kẹt (Thái Lan), Hội đồng Di sản thế giới công nhận vịnh Hạ Long là di sản thế giới. Tác giả dẫn lời đánh giá của ông Giêm Tho-sen (James Thorsell) thuộc Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN), rồi nhắc tới hai câu thơ của Nguyễn Trãi trong bài Vân Đồn để cho thấy vẻ đẹp ấy đã được người Việt phát hiện từ hơn năm thế kỉ trước.

Tiếp đó, văn bản lần lượt giải thích Hạ Long “độc đáo” và “tuyệt mĩ” ở đâu: những đảo đá muôn hình như một công trình điêu khắc khổng lồ; cảnh vịnh đổi thay khi người xem thay đổi chỗ đứng và theo từng buổi, từng mùa; hệ thống hang động kì ảo như động Thiên Cung, hồ Ba Hầm. Đoạn cuối khẳng định Hạ Long là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của nghệ thuật, dẫn thơ Quách Mạt Nhược và khép lại bằng lời khiêm tốn của người viết. Vì văn bản còn trong thời hạn bảo hộ, bài viết chỉ tóm lược; em đọc toàn văn trong SGK Ngữ văn 9 Cánh diều tập một (trang 55–60).
Thông tin tác giả Thi Sảnh
SGK chỉ ghi văn bản được trích theo Thi Sảnh, không kèm phần giới thiệu tác giả. Theo tư liệu của một số trang học tập, Thi Sảnh là bút danh của Nguyễn Thanh Sỹ (1941–2020), quê Quảng Trị, từng học Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội; ông là nhà thơ, nhà nghiên cứu lịch sử – văn hóa, sống và làm việc lâu năm ở Quảng Ninh.
Phần lớn sách và bài viết của Thi Sảnh dành cho lịch sử, danh thắng, di tích của vùng đất mỏ Quảng Ninh, trong đó có những công trình về Yên Tử và vịnh Hạ Long. Sự am hiểu địa phương giúp ông viết về Hạ Long vừa có số liệu, tên đất, tên người cụ thể vừa có cảm xúc của người gắn bó.
Thông tin tác phẩm Vịnh Hạ Long: một kì quan thiên nhiên độc đáo và tuyệt mĩ
Phần này gom các kiến thức thường gặp trong câu hỏi đọc hiểu và bài kiểm tra về văn bản.
Xuất xứ văn bản Vịnh Hạ Long
Văn bản được SGK trích theo Thi Sảnh, đăng trên Tạp chí Di sản văn hóa, số 8, năm 2004 (trang thông tin dsvh.gov.vn của Cục Di sản văn hóa).
Thể loại, đề tài và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản thông tin (giới thiệu một danh lam thắng cảnh).
- Đề tài: vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên thế giới của Việt Nam.
- Phương thức biểu đạt: thuyết minh là chính, kết hợp miêu tả, biểu cảm và một ít tự sự.
- Ngôi kể: người viết đứng ở ngôi thứ ba khi cung cấp thông tin, có lúc xưng “chúng tôi” ở đoạn kết.
Văn bản Vịnh Hạ Long có mấy phần? Bố cục
Văn bản gồm phần mở đầu và ba mục có đề mục riêng:
- Phần mở đầu (từ đầu đến câu hỏi về vẻ đẹp “độc đáo”): giới thiệu sự kiện ghi danh di sản, lời đánh giá của IUCN, thơ Nguyễn Trãi; nêu vấn đề.
- Mục 1 – Vịnh Hạ Long là tác phẩm nghệ thuật thiên nhiên hoành tráng: vẻ đẹp tạo hình của các đảo đá và mặt vịnh.
- Mục 2 – Cảnh quan Hạ Long biến đổi theo góc nhìn và thời gian: cảnh đổi theo vị trí người ngắm và theo các thời điểm trong ngày, trong năm.
- Mục 3 – Hệ thống hang động như những lâu đài bí ẩn: động Thiên Cung, hồ Ba Hầm; đoạn kết nói về cảm hứng nghệ thuật mà Hạ Long khơi gợi.
Cách triển khai thông tin
Thông tin được sắp xếp theo các phương diện của đối tượng (đảo đá – cảnh quan – hang động), trong từng phần lại kết hợp trật tự không gian (xa – gần, ngoài vịnh – trong lòng núi) và trật tự thời gian (sớm xuân, sáng hè, trưa, chiều, đêm trăng thu). Nhan đề và các đề mục giúp người đọc nắm ngay ý chính của từng phần.
Giá trị nội dung
Văn bản cung cấp những hiểu biết chính xác, phong phú về vịnh Hạ Long: thời điểm được công nhận di sản, vẻ đẹp của hàng nghìn đảo đá, sự biến đổi kì diệu của cảnh quan và vẻ huyền bí của hang động. Qua đó, văn bản khẳng định Hạ Long xứng đáng là kì quan thiên nhiên, khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn giữ di sản của dân tộc.
Giá trị nghệ thuật
- Bố cục rõ ràng với nhan đề, đề mục làm nổi bật luận điểm.
- Thông tin đáng tin cậy: mốc thời gian, tên tổ chức quốc tế, tên đảo, số đo của hang động.
- Kết hợp thuyết minh với miêu tả giàu hình ảnh, nhiều so sánh, nhân hóa, liệt kê; ngôn ngữ vừa chính xác vừa giàu cảm xúc.
- Dẫn thơ của Nguyễn Trãi, Chế Lan Viên, Huy Cận, Quách Mạt Nhược… làm tăng sức thuyết phục và chất trữ tình.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề vừa gọi tên đối tượng (vịnh Hạ Long) vừa nêu ngay lời đánh giá: một kì quan do thiên nhiên tạo nên, có nét riêng không nơi nào có (“độc đáo”) và đẹp đến mức hoàn hảo (“tuyệt mĩ”). Toàn bộ văn bản là quá trình chứng minh cho nhận định ở nhan đề.
Sơ đồ tư duy văn bản Vịnh Hạ Long
Sơ đồ dưới đây tóm tắt các ý chính về tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, nội dung và nghệ thuật.

Tìm hiểu chi tiết văn bản Vịnh Hạ Long
Mỗi phần của văn bản làm rõ một khía cạnh của vẻ đẹp Hạ Long; khi học, em nên ghi nhớ một vài chi tiết tiêu biểu cho từng phần.
Phần mở đầu: sự kiện và lời đánh giá
Thời điểm được ghi chính xác đến từng phút, địa điểm cụ thể, cơ quan công nhận có uy tín – tất cả tạo cảm giác tin cậy. Lời đánh giá của chuyên gia IUCN được đặt cạnh hai câu thơ của Nguyễn Trãi viết khi ông đến Vân Đồn khoảng 550 năm trước, cho thấy vẻ đẹp Hạ Long đã được khẳng định qua nhiều thời đại.
Mục 1: đảo đá – tác phẩm nghệ thuật của tạo hóa
Hàng nghìn đảo đá trên một diện tích không lớn, lúc quây quần, lúc nối thành dải dài như tường thành, lúc nhấp nhô đứt khúc. Nhiều đảo mang dáng người, dáng vật và có tên riêng: hòn Lã Vọng, hòn Ông Sư, hòn Gà Chọi, hòn Đại Bàng… Chân đảo chịu tác động của nước biển suốt hàng triệu năm nên bị khoét thành những hình thù lạ như phù điêu; một số đảo trông như công trình kiến trúc (hòn Xếp, hòn Ngà Voi, hòn Pháo Đài, hòn Mái Nhà). Mặt vịnh xanh quanh năm với sắc xanh của biển, núi và trời.
Mục 2: cảnh quan biến đổi theo góc nhìn và thời gian
Ngồi thuyền buồm len giữa các đảo, du khách thấy từ xa là một bức tường đá liền khối, đến gần lại tách thành nhiều đảo, lối đi mở ra rồi khép lại như trò chơi ú tim. Theo thời gian: sớm xuân huyền ảo trong sương, sáng hè rực rỡ cảnh mặt trời mọc, trưa hè nắng bạc lấp lánh và hương phong lan, chiều hè mặt trời đỏ lặn sau dãy đảo, đêm trăng thu mặt vịnh như gương và đảo đá trở nên bí ẩn.
Mục 3: hang động như những lâu đài bí ẩn
Vịnh có tới hàng chục hang động với kích thước, dáng vẻ, màu sắc khác nhau. Động Thiên Cung có lòng động rộng lớn, vách chạm nổi những hình tượng sinh động, thạch nhũ ánh bạc, chiếc gậy đá dài trên trần. Hồ Ba Hầm có đáy là mặt nước vịnh, gồm ba trũng biển nối với nhau bằng hang luồn, phải đi xuồng mới vào được; quanh hồ là thế giới cá, tôm, cua và sóc, khỉ, chim. Đoạn kết khẳng định Hạ Long là nguồn cảm hứng của thơ ca, âm nhạc, hội họa, điện ảnh, nhưng mọi tác phẩm đều chưa diễn tả hết vẻ đẹp ấy.
Lời kết
Vịnh Hạ Long: một kì quan thiên nhiên độc đáo và tuyệt mĩ là văn bản mẫu mực để học cách viết bài giới thiệu danh lam thắng cảnh: nhan đề nêu nhận định, đề mục chia rõ từng phương diện, thông tin chính xác được kể bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh. Khi học, em hãy ghi nhớ bố cục bốn phần và những chi tiết tiêu biểu của từng phần.
Xem thêm: