Chữ quốc ngữ là lối chữ dùng chữ cái Latinh, thêm các dấu phụ và dấu thanh, mà người Việt đang dùng để ghi tiếng Việt. Nó được các giáo sĩ phương Tây xây dựng dần từ thế kỷ XVII, đến đầu thế kỷ XX mới thay hẳn chữ Hán và chữ Nôm trong đời sống. Mỗi trang sách giáo khoa, mỗi tin nhắn ta gõ đều là chữ quốc ngữ.
Bài giải nghĩa riêng về khái niệm bình dân học vụ giúp phân biệt khái niệm này với những từ dễ nhầm.
| Khái niệm | Chữ viết ghi âm của tiếng Việt, dựa trên bảng chữ cái Latinh |
| Bảng chữ cái | 29 chữ cái, bảy chữ mang dấu phụ như đ, ơ, ư |
| Thanh điệu | 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng; thanh ngang không dấu |
| Dấu hiệu nhận biết | Chữ Latinh có dấu, mỗi âm tiết viết rời thành một chữ |
| Thuộc | Kiến thức về chữ viết tiếng Việt, lịch sử tiếng Việt |

Vì sao gọi là chữ quốc ngữ?
Quốc ngữ (國語) nghĩa đen là tiếng nói của một nước. Trước đây, chính chữ Nôm cũng có lúc được gọi là quốc âm hay quốc ngữ, để phân biệt với chữ Hán. Chỉ từ nửa sau thế kỷ XIX, khi lối chữ Latinh được đưa vào công văn và trường học ở Nam Kỳ, tên gọi “chữ quốc ngữ” mới dần gắn hẳn với bộ chữ này.
Hiểu chặt chẽ thì cần tách hai chuyện. Tiếng Việt là ngôn ngữ, là âm thanh người Việt nói với nhau. Chữ quốc ngữ là một trong các cách ghi ngôn ngữ ấy lên giấy. Người Việt từng ghi tiếng mình bằng chữ Nôm hàng trăm năm trước khi có chữ quốc ngữ; tiếng thì vẫn là một tiếng.
Từ các giáo sĩ Dòng Tên đến Gia Định báo
Đầu thế kỷ XVII, các giáo sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha, Ý và một số nơi khác ở châu Âu sang truyền đạo ở Đàng Trong, Đàng Ngoài. Để học tiếng và soạn sách giảng đạo, họ dùng chữ cái quen thuộc với mình để ghi lại âm tiếng Việt. Francisco de Pina được xem là một trong những người đầu tiên làm việc này bài bản. Năm 1651, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (tên Việt là Đắc Lộ) cho in tại Roma cuốn từ điển Việt – Bồ – La và sách Phép giảng tám ngày, hai ấn phẩm đánh dấu lối chữ mới đã khá ổn định. Ông cho biết mình dựa trên công trình của những người đi trước, nên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không nên gán cho riêng ai danh hiệu “cha đẻ” của chữ quốc ngữ.
Hai thế kỷ sau, chữ này vẫn chủ yếu dùng trong giới công giáo. Bước ngoặt đến khi Pháp chiếm Nam Kỳ: năm 1865 tờ Gia Định báo ra đời, là tờ báo đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ; năm 1869 chính quyền thuộc địa buộc công văn ở Nam Kỳ dùng chữ này. Sang đầu thế kỷ XX, các nhà Nho tiến bộ trong phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục lại kêu gọi người dân học chữ quốc ngữ để mở mang dân trí. Khoa thi chữ Hán cuối cùng diễn ra năm 1919. Năm 1938, Hội Truyền bá Quốc ngữ thành lập; tháng 9/1945, chính quyền mới ra sắc lệnh buộc mọi người phải học chữ quốc ngữ và không mất tiền, mở đầu phong trào Bình dân học vụ.
Dấu hiệu nhận ra chữ quốc ngữ
- Dùng chữ cái Latinh có thêm dấu phụ. Bảng chữ cái tiếng Việt có 29 chữ, không dùng f, j, w, z cho từ thuần Việt, và có bảy chữ mang dấu riêng: đ có gạch ngang, ơ và ư có râu, ă có dấu trăng, còn â, ê, ô đội mũ.
- Ghi thanh điệu bằng dấu. Năm dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng đặt trên hoặc dưới nguyên âm chính. Thanh ngang thì không đánh dấu. Cùng chữ ma, thêm dấu là thành má, mà, mả, mã, mạ, sáu nghĩa khác hẳn nhau.
- Mỗi âm tiết viết rời. Khác chữ Hán, chữ Nôm viết thành từng khối vuông, chữ quốc ngữ ghi mỗi tiếng thành một cụm chữ cái, cách nhau bằng khoảng trắng.
- Có nhiều tổ hợp chữ cái ghi một âm, chẳng hạn tr, th, ph, nh, ngh, ng, kh, gi, gh và ch. Phần lớn mượn từ cách viết của tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Ý thời đó.
- Một âm có thể có nhiều cách viết, theo luật. Âm “cờ” viết là k trước i, e, ê (kì, kẻ, kê), là q khi đi với u làm âm đệm (quê), còn lại viết c (ca, cô, cũ). Tương tự, ngh, gh chỉ đứng trước i, e, ê.
Thứ tự và cách đọc từng chữ cái được trình bày kỹ trong bài bảng 29 chữ cái kèm cách phát âm từng chữ.
Câu Kiều xưa viết Nôm, nay đọc bằng chữ Latinh
Truyện Kiều được Nguyễn Du viết bằng chữ Nôm. Hầu hết chúng ta hôm nay đọc nó qua bản phiên âm sang chữ quốc ngữ. Hai câu mở đầu:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Soi kỹ vài chữ trong đó, ta thấy gần đủ các đặc điểm vừa nêu:
- Trăm: tổ hợp tr ghi một phụ âm đầu; chữ ă là a có dấu phụ, ghi âm a ngắn.
- người: ng ghi một phụ âm; ươ là nguyên âm đôi; dấu huyền đặt trên ơ, nguyên âm chính.
- khéo, ghét: hai tổ hợp kh, gh; chữ gh xuất hiện vì đứng trước e.
- mệnh: chữ ê mang cùng lúc dấu phụ (mũ) và dấu thanh (nặng).
Bản chữ Nôm của câu này mỗi tiếng là một khối chữ, người đọc phải học mặt chữ mới đọc được. Bản quốc ngữ thì một học sinh lớp 1 đã đánh vần ra, dù hiểu hết ý thì còn phải học lâu. Muốn đọc tiếp những đoạn Kiều trong chương trình, có thể xem bài soạn đoạn trích Trao duyên lớp 11.
Chữ quốc ngữ, chữ Nôm và chữ Hán khác nhau thế nào?
| Tiêu chí | Chữ Hán | Chữ Nôm | Chữ quốc ngữ |
|---|---|---|---|
| Kiểu chữ | Chữ vuông, biểu ý | Chữ vuông, người Việt tạo từ chữ Hán | Chữ cái Latinh, ghi âm |
| Ghi ngôn ngữ nào | Văn ngôn (Hán văn); người Việt đọc theo âm Hán Việt | Tiếng Việt | Tiếng Việt |
| Độ khó khi học | Phải nhớ hàng nghìn chữ | Phải biết chữ Hán trước | Học bảng chữ cái và luật ghép vần |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bình Ngô đại cáo, Hịch tướng sĩ | Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương | Hầu hết văn học từ đầu thế kỷ XX đến nay |
Một chỗ dễ nhầm: chữ Nôm không phải “chữ của dân thường”, và chữ quốc ngữ cũng không phải “chữ Pháp”. Chữ Nôm là sáng tạo của trí thức Việt, nhiều thơ Nôm rất bác học; còn chữ quốc ngữ ra đời từ thế kỷ XVII, trước khi người Pháp chiếm Nam Kỳ hơn hai trăm năm. Muốn thấy chữ Nôm được dùng tài tình ra sao, đọc bài về giọng thơ Nôm đầy cá tính của Hồ Xuân Hương.
Thử sức: bốn câu hỏi về chữ quốc ngữ
Câu 1: Chữ quốc ngữ và tiếng Việt có phải là một không? Vì sao?
Đáp án: Không. Tiếng Việt là ngôn ngữ; chữ quốc ngữ là chữ viết dùng để ghi tiếng Việt. Trước chữ quốc ngữ, tiếng Việt từng được ghi bằng chữ Nôm.
Câu 2: Tìm các tổ hợp chữ cái ghi một phụ âm đầu trong câu: “Nghe tiếng chim kêu, nhà thơ khẽ trở mình.”
Đáp án: ngh (nghe), ch (chim), nh (nhà), th (thơ), kh (khẽ), tr (trở). Riêng k trong “kêu” là một chữ cái đơn, viết k vì đứng trước ê.
Câu 3: Vì sao viết “ghế”, “nghĩ” mà không viết “gế”, “ngĩ”?
Đáp án: Theo luật chính tả, hễ đứng trước i, e hay ê thì phải dùng gh, ngh; trước các nguyên âm còn lại dùng g, ng (ga, gà, ngô, ngủ). Lối thêm h sau g để giữ âm “gờ” trước i, e giống cách viết của tiếng Ý, một trong những thứ tiếng các giáo sĩ quen dùng khi đặt chữ.
Câu 4: Từ “ma”, thêm lần lượt năm dấu thanh và đặt mỗi chữ vào một cụm từ.
Đáp án tham khảo: má (má hồng), mà (vậy mà), mả (mồ mả), mã (mã số), mạ (cấy mạ). Cùng một khung chữ cái, chỉ khác dấu là khác nghĩa, nên viết thiếu dấu dễ gây hiểu lầm.
Chữ quốc ngữ qua những điều học sinh hay tò mò
Ai sáng tạo ra chữ quốc ngữ?
Không phải một người. Đó là công trình của nhiều giáo sĩ phương Tây ở thế kỷ XVII, như Francisco de Pina, Alexandre de Rhodes, cùng những người đi trước và sau họ. Alexandre de Rhodes nổi tiếng nhất vì cho in từ điển năm 1651.
Chữ quốc ngữ có bao nhiêu chữ cái?
29 chữ cái, gồm 22 chữ cái Latinh quen thuộc (bỏ f, j, w, z) và bảy chữ có dấu phụ. Ngoài ra còn các tổ hợp như nh, ngh, tr cùng năm dấu thanh; nhiều tài liệu dạy thêm f, j, w, z để viết tên riêng, từ nước ngoài.
Chữ quốc ngữ được dùng chính thức từ khi nào?
Ở Nam Kỳ, chữ này vào công văn từ năm 1869. Trên cả nước, nó trở thành chữ viết phổ biến sau khi khoa cử chữ Hán chấm dứt năm 1919, và được dạy cho toàn dân qua phong trào Bình dân học vụ từ năm 1945.
Chữ quốc ngữ tiếng Anh là gì?
Thường gọi là Vietnamese alphabet hoặc giữ nguyên chữ Quốc ngữ (Quoc Ngu script) trong các tài liệu nghiên cứu.