Soạn bài Khan hiếm nước ngọt hướng dẫn em trả lời ba câu hỏi chuẩn bị, bốn câu hỏi trong khi đọc và sáu câu hỏi sau khi đọc ở trang 51 – 53, Bài 8 (Văn bản nghị luận) sách Ngữ văn 6 Cánh diều tập hai. Văn bản của tác giả Trịnh Văn là bài nghị luận xã hội thứ hai trong bài học, cảnh báo về một nguy cơ có thật: lượng nước ngọt của hành tinh ít hơn rất nhiều so với hình dung của số đông.
Tìm hiểu chung về văn bản Khan hiếm nước ngọt
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm xuất xứ, bố cục và các số liệu chính được nêu trong văn bản.

Tác giả, xuất xứ, thể loại
- Tác giả: Trịnh Văn.
- Xuất xứ: bài viết đăng trên báo Nhân Dân năm 2003, SGK có lược bớt một đoạn (dấu […]).
- Thể loại: nghị luận xã hội, bàn về một vấn đề môi trường cấp bách.
Bố cục và tóm lược nội dung
- Phần 1 (đoạn mở đầu): nêu một cách nghĩ sai – thấy nước khắp nơi nên tưởng con người và muôn loài chẳng bao giờ thiếu nước – rồi khẳng định ngay đó là nhầm lẫn.
- Phần 2 (ba đoạn tiếp theo): chứng minh nước ngọt đang ngày càng hiếm bằng nhiều lí lẽ và số liệu.
- Phần 3 (đoạn cuối): kết luận, kêu gọi con người khai thác đi đôi với tiết kiệm nước.
Tóm lược: Phần lớn nước trên hành tinh là nước mặn; lượng nước ngọt ít ỏi thì chủ yếu đóng băng ở hai cực và dãy Hi-ma-lay-a; thứ con người dùng được chỉ là nước sông, suối, ao, hồ và mạch ngầm. Lượng nước ấy có hạn mà còn bị rác thải, chất độc làm bẩn. Theo Tổ chức Y tế thế giới, hơn hai tỉ người đang thiếu nước sinh hoạt; dân số tăng, nhu cầu tăng, sản xuất lương thực, thực phẩm lại tốn rất nhiều nước. Nước ngọt còn phân bố không đều, như ở vùng núi đá Đồng Văn (Hà Giang), người dân phải đi vài ba cây số mới lấy được nước. Vì thế, con người cần dùng nước hợp lí và tiết kiệm.
Soạn bài Khan hiếm nước ngọt: Chuẩn bị (trang 51)
Phần Chuẩn bị yêu cầu em vận dụng cách đọc văn bản nghị luận đã học và liên hệ hiểu biết thực tế về nước.
Câu 1: Vận dụng mục Chuẩn bị của bài trước (trang 51)
Xem lại mục Chuẩn bị ở bài Vì sao chúng ta phải đối xử thân thiện với động vật? để vận dụng vào đọc hiểu văn bản này.
Trả lời:
- Nhan đề cho biết đề tài: tình trạng nước ngọt ngày càng ít ỏi, không đủ cho nhu cầu của con người.
- Người viết phản đối điều gì: phản đối quan niệm cho rằng nước trên Trái Đất nhiều vô kể nên con người không bao giờ thiếu nước.
- Lí lẽ và bằng chứng: nước trên Trái Đất chủ yếu là nước mặn, nước ngọt phần lớn đóng băng; nguồn nước dùng được có hạn và bị ô nhiễm; hơn hai tỉ người thiếu nước; sản xuất lương thực, thực phẩm tốn nhiều nước; nước phân bố không đều (ví dụ Đồng Văn, Hà Giang).
- Liên quan tới cuộc sống hiện nay và bản thân: thiếu nước sạch đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới và cả nước ta; vấn đề nhắc mỗi người, trong đó có em, phải biết tiết kiệm và giữ sạch nguồn nước.
Câu 2: Phân biệt nước, nước mặn, nước ngọt, nước sạch (trang 51)
Hằng ngày, em vẫn sử dụng nước, hãy giải thích cho mọi người rõ sự khác nhau giữa: nước, nước mặn, nước ngọt, nước sạch. Nguồn nước nhà em đang sử dụng trong sinh hoạt là loại nước nào?
Trả lời:
| Loại | Giải thích |
|---|---|
| Nước | Tên gọi chung của chất lỏng trong suốt, không mùi vị, có ở sông, hồ, biển, trong lòng đất và cả trong không khí (hơi nước). |
| Nước mặn | Nước có hòa tan nhiều muối, có vị mặn, như nước biển, đại dương; con người không uống hay tưới cây được. |
| Nước ngọt | Nước có rất ít muối, không mặn, có ở sông, suối, ao, hồ, mạch ngầm, băng tuyết; nhưng chưa chắc đã sạch. |
| Nước sạch | Nước ngọt đã bảo đảm vệ sinh: không có chất độc, vi khuẩn gây bệnh, có thể dùng để ăn uống, sinh hoạt. |
Gia đình em đang dùng nước máy do nhà máy nước cung cấp, đó là nước sạch. (Nếu nhà em dùng nước giếng khoan đã qua bể lọc, em có thể trả lời là nước ngọt đã được lọc sạch.)
Câu 3: Ba tác dụng của nước ngọt (trang 51)
Nếu phải trình bày trước lớp ba tác dụng của nước ngọt, em sẽ nêu những tác dụng nào?
Trả lời:
- Duy trì sự sống: nước ngọt (sau khi làm sạch) là nước uống của con người và vật nuôi; thiếu nước, cơ thể chỉ chịu được vài ngày.
- Phục vụ sinh hoạt: nấu ăn, tắm giặt, vệ sinh nhà cửa đều cần nước ngọt.
- Phục vụ sản xuất: tưới tiêu cho cây trồng, chăn nuôi, nuôi cá và hoạt động của nhiều nhà máy.
Soạn bài Khan hiếm nước ngọt: Đọc hiểu (câu hỏi trong khi đọc, trang 51 – 53)
Bốn câu hỏi bên lề giúp em theo dõi cách người viết nêu vấn đề, phản bác và kết luận.
Câu 1: Ý chính của phần mở đầu, liên quan với tên văn bản (trang 51)
Ý chính của phần mở đầu là gì? Nó liên quan với tên văn bản như thế nào?
Trả lời:
- Ý chính: nhìn bản đồ thấy nước ở khắp nơi nên nhiều người tin rằng con người không bao giờ thiếu nước – người viết khẳng định ngay đó là suy nghĩ sai lầm.
- Quan hệ với nhan đề: nhan đề nói nước ngọt đang khan hiếm, còn phần mở đầu chỉ ra cách nghĩ ngược lại để bác bỏ. Như vậy, phần mở đầu dẫn dắt, đặt vấn đề cho nhan đề và cho toàn bài.
Câu 2: Các câu in nghiêng ở phần 2 phản đối ý kiến nào? (trang 52)
Trả lời:
Các câu in nghiêng (nêu ý chính của từng đoạn trong phần 2) dùng để phản bác quan niệm đã nêu ở phần mở đầu: Trái Đất bao la nước nên muôn loài, kể cả con người, chẳng lo thiếu nước. Mỗi câu in nghiêng đưa ra một lí do khiến quan niệm ấy không đúng: nước nhiều nhưng chủ yếu là nước mặn; nhu cầu dùng nước ngày càng lớn; nước ngọt lại phân bố không đều.
Câu 3: Chỉ ra những lí lẽ và bằng chứng trong phần 2 (trang 52)
Trả lời:
| Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|
| Nước trên Trái Đất chủ yếu là nước mặn; lượng nước ngọt con người dùng được rất có hạn và đang bị ô nhiễm. | Phần lớn nước ngọt là băng ở hai địa cực và trên dãy Hi-ma-lay-a; nguồn khai thác được chỉ gồm nước sông, suối, ao, hồ, đầm và mạch ngầm; rác thải, chất độc ngấm xuống đất, đổ ra sông suối, có loại hàng chục năm chưa phân hủy. |
| Nhu cầu dùng nước của con người ngày càng tăng. | Theo Tổ chức Y tế thế giới, hơn hai tỉ người thiếu nước sinh hoạt; dân số tăng mỗi ngày; muốn có 1 tấn ngũ cốc phải dùng 1 000 tấn nước; với khoai tây là 500 – 1 500 tấn, thịt gà ít nhất 3 500 tấn, thịt bò 15 000 – 70 000 tấn nước cho mỗi tấn sản phẩm. |
| Nước ngọt chỗ thừa chỗ thiếu, không chia đều cho các vùng. | Vùng núi đá Đồng Văn (Hà Giang): muốn có nước, bà con phải đi bộ vài ba cây số; có mạch nước ngầm nhưng khai thác rất gian khổ, tốn kém. |
Câu 4: Phần 3 có vai trò gì trong văn bản nghị luận này? (trang 53)
Trả lời:
Phần 3 là phần kết luận. Nó tóm lại vấn đề (nước ngọt ngày càng hiếm, muốn có nước sạch rất tốn kém) và nêu giải pháp: vừa khai thác nguồn nước, vừa phải dùng nước hợp lí, tiết kiệm. Nhờ phần này, bài viết không dừng ở lời cảnh báo mà chuyển thành lời khuyên, lời kêu gọi hành động; đây cũng là mục đích chính của người viết.
Soạn bài Khan hiếm nước ngọt: Câu hỏi sau khi đọc (trang 53)
Sáu câu hỏi giúp em tổng kết vấn đề, lí do, mục đích, thái độ của người viết và luyện viết đoạn văn.
Câu 1: Vấn đề, nơi nêu khái quát, liên hệ với tên văn bản (trang 53)
Văn bản Khan hiếm nước ngọt viết về vấn đề gì? Vấn đề đó được nêu khái quát ở phần nào? Tên văn bản và vấn đề đặt ra trong đó có liên quan như thế nào?
Trả lời:
- Vấn đề: nước ngọt – thứ tài nguyên con người không thể thiếu – đang ngày càng ít đi và bị ô nhiễm.
- Nơi nêu khái quát: phần mở đầu (đoạn 1), qua việc bác bỏ quan niệm sai về sự dồi dào của nước.
- Liên hệ: tên văn bản gọi đúng tên vấn đề được bàn; đọc nhan đề là biết ngay nội dung cả bài. Nhan đề và vấn đề thống nhất với nhau.
Câu 2: Liệt kê các lí do khiến nước ngọt ngày càng khan hiếm (trang 53)
Theo tác giả, có những lí do nào khiến nước ngọt ngày càng khan hiếm? Liệt kê ra vở các lí do theo bảng (SGK đã điền sẵn lí do a: số nước ngọt không phải là vô tận và đang ngày càng bị nhiễm bẩn bởi chính con người gây ra).
Trả lời:
| Hiện tượng | Lí do |
|---|---|
| Nước ngọt mỗi ngày một hiếm | a. Lượng nước ngọt có hạn, lại đang bị chính con người làm bẩn (SGK đã cho). |
| b. Dân số tăng, cuộc sống văn minh hơn nên con người dùng nước ngày một nhiều cho sinh hoạt và sản xuất. | |
| c. Nước ngọt phân bố chênh lệch giữa các vùng, “có nơi lúc nào cũng ngập nước, nơi lại rất khan hiếm”; khai thác ở vùng thiếu nước lại rất khó khăn, tốn kém. |
Câu 3: Mục đích của tác giả, câu văn thể hiện rõ nhất, lí lẽ có làm rõ không? (trang 53)
Theo em, mục đích của tác giả khi viết văn bản này là gì và được thể hiện rõ nhất ở câu văn, đoạn văn nào? Các lí lẽ và bằng chứng đã nêu lên trong văn bản có làm rõ được mục đích của tác giả không?
Trả lời:
- Mục đích: cảnh tỉnh mọi người về sự khan hiếm của nước ngọt, từ đó kêu gọi dùng nước một cách tiết kiệm, có trách nhiệm.
- Chỗ bộc lộ rõ nhất: đoạn văn cuối bài, đặc biệt là câu kêu gọi con người phải “sử dụng một cách hợp lí, tiết kiệm tài nguyên nước”.
- Lí lẽ, bằng chứng có làm rõ mục đích không: có. Ba lí lẽ chính được chứng minh bằng hiểu biết khoa học (nước mặn chiếm phần lớn, nước ngọt đóng băng), số liệu cụ thể (hơn hai tỉ người thiếu nước, số tấn nước cần cho mỗi tấn lương thực, thịt) và ví dụ gần gũi (vùng núi đá Đồng Văn). Các bằng chứng xác thực khiến lời kêu gọi ở cuối bài trở nên thuyết phục.
Câu 4: Thái độ của người viết đối với vấn đề nước ngọt (trang 53)
Qua văn bản Khan hiếm nước ngọt, người viết thể hiện thái độ như thế nào đối với vấn đề nước ngọt?
Trả lời:
Qua bài viết, ta thấy tác giả lo lắng, trăn trở trước nguy cơ thiếu nước ngọt; phê phán những người chủ quan và những hành vi xả rác, chất độc làm bẩn nguồn nước; đồng thời tha thiết mong mọi người trân trọng, tiết kiệm từng giọt nước. Giọng văn khi thẳng thắn (khẳng định nghĩ như vậy là nhầm), khi xót xa (cảnh bà con vùng cao đi bộ vài cây số lấy nước).
Câu 5: Văn bản giúp em hiểu thêm gì về nước? (trang 53)
So với những điều em biết về nước, văn bản cho em hiểu thêm được những gì?
Trả lời:
- Phần lớn nước trên Trái Đất là nước mặn; nước ngọt chủ yếu nằm trong băng tuyết ở hai cực và trên núi cao.
- Nước ngọt con người dùng được không phải vô tận, lại đang bị ô nhiễm bởi rác thải, có thứ hàng chục năm chưa phân hủy hết.
- Để làm ra lương thực, thực phẩm cần một lượng nước khổng lồ, nhất là thịt bò (mỗi tấn thịt tốn 15 000 – 70 000 tấn nước).
- Hơn hai tỉ người trên thế giới đang thiếu nước sinh hoạt; ngay ở nước ta, có nơi như Đồng Văn (Hà Giang) người dân phải đi rất xa để có nước.
Câu 6: Viết đoạn văn về môi trường có dùng thành ngữ nhiều như nước (trang 53)
Viết đoạn văn ngắn (khoảng 8 – 10 dòng) về chủ đề môi trường, có sử dụng thành ngữ nhiều như nước.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo:
Ông bà ta thường nói tiêu tiền như nước, của nhiều như nước để chỉ những thứ dồi dào, chẳng bao giờ hết. Thế nhưng đọc văn bản Khan hiếm nước ngọt, em mới giật mình nhận ra chính nước cũng không còn nhiều như nước nữa. Nước ngọt mà chúng ta dùng mỗi ngày chỉ là một phần rất nhỏ trên Trái Đất, lại đang bị rác thải, hóa chất làm ô nhiễm. Ở nhiều nơi, người dân phải đi bộ hàng cây số mới có được một can nước sạch. Trong khi đó, quanh em vẫn có những vòi nước chảy tràn không ai khóa, những con kênh đen ngòm vì túi ni lông và rác sinh hoạt. Bảo vệ môi trường, vì thế, phải bắt đầu từ những việc rất nhỏ: khóa vòi khi không dùng, tận dụng nước vo gạo để tưới cây, không vứt rác xuống ao hồ, sông suối. Mỗi giọt nước được giữ gìn hôm nay là món quà cho cuộc sống ngày mai.
(Thành ngữ được sử dụng: nhiều như nước.)
Kết luận
Văn bản Khan hiếm nước ngọt cho thấy sức thuyết phục của một bài nghị luận xã hội khi lí lẽ đi kèm số liệu và ví dụ cụ thể. Từ một quan niệm sai phổ biến, người viết lần lượt chứng minh nước ngọt đang cạn dần và kết thúc bằng lời kêu gọi tiết kiệm nước. Cùng với văn bản về cách đối xử với động vật học trước đó, bài học giúp em hiểu rằng bảo vệ thiên nhiên chính là bảo vệ cuộc sống của con người.
Xem thêm: