Du xuân là đi chơi xuân, ra ngoài ngắm cảnh và vui hội trong những ngày đầu năm mới. Với người Việt, đi du xuân thường gắn với dịp Tết và tháng Giêng: lễ chùa, viếng đền, hái lộc, trẩy hội làng hay đơn giản là cả nhà dạo phố hoa. Chữ này mang chút văn chương, nên trong lời nói hằng ngày người ta hay bảo gọn là “đi chơi Tết”.
| Nghĩa | Đi chơi xuân, vui cảnh ngày xuân |
| Gốc | Hán Việt 遊春: du (rong chơi) + xuân (mùa xuân) |
| Thời điểm | Từ sau giao thừa đến hết tháng Giêng âm lịch |
| Hoạt động | Lễ chùa, đền; hái lộc (chủ yếu ở miền Bắc); trẩy hội; thăm thắng cảnh |

Chữ du trong du xuân
Từ điển xếp du xuân vào lớp từ văn chương, nghĩa là đi chơi xuân, vui cảnh ngày xuân. Chữ du (遊) Thiều Chửu giảng là rong chơi, tìm tới chỗ cảnh đẹp mà ngắm cho thích; cùng họ có du ngoạn, du lịch, du sơn (chơi núi). Chữ xuân (春) là mùa xuân, cũng là sắc tươi trẻ, như trong thanh xuân.
Vậy du xuân không phải là một nghi lễ có trình tự như cúng giao thừa. Nó là cái cớ để ra khỏi nhà sau những ngày quây quần, mang theo tâm thế “đầu năm đi đâu cũng mong gặp điều lành”. Có người du xuân bằng chuyến hành hương xa, có người chỉ đạp xe ra đình làng xem đánh cờ người.
Tháng Giêng nông nhàn và cái thú đi chơi
Gốc rễ của tục này nằm trong nhịp làm ăn của làng lúa nước. Tết rơi vào lúc việc đồng áng thưa nhất, người nông dân có dịp nghỉ tay trước khi vào vụ trồng màu. Câu ca dao quen thuộc nói đúng cái nhịp ấy:
Tháng Giêng là tháng ăn chơi,
Tháng Hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.
Khoảng nghỉ ấy trùng với mùa hội. Làng nào cũng có đình, có thần hoàng, nhiều nơi mở hội đầu năm để tế lễ rồi vui chơi: vật, đánh đu, hát quan họ, cờ người. Người làng bên rủ nhau sang xem, thế là thành “trẩy hội”. Bên cạnh đó là niềm tin rằng đầu xuôi thì đuôi lọt: đi lễ chùa, xin lộc lúc năm mới để cả năm được bình an. Tục lên chùa đầu năm có từ bao giờ thì không ai biết chắc, nhưng nó đã thành nếp ở rất nhiều vùng.
Vì cùng rơi vào sáng mùng Một, du xuân hay đi liền với lần ra khỏi nhà đầu tiên trong năm. Nghi thức chọn ngày giờ, hướng đi cho lần ấy được bàn riêng ở bài tục chọn hướng đi đầu năm.
Một chuyến du xuân thường có những gì?
Không có “kịch bản” bắt buộc, nhưng vài việc lặp lại đủ nhiều để thành nét chung:
- Đi lễ chùa, đền, phủ. Thắp hương, cầu an cho gia đình. Nhiều người đi vào sáng mùng Một hoặc trong rằm tháng Giêng.
- Hái lộc. Sau khi lễ, người miền Bắc xưa có tục bẻ một cành nhỏ (cành đa, cành si, cành lộc vừng đang nảy chồi) mang về cắm lên bàn thờ, coi như xin chút lộc của năm mới. Miền Trung theo ghi chép không có tục này, nên cây trong đền chùa ở đó giữ nguyên lá non.
- Trẩy hội. Hội chùa Hương, hội Lim và vô số hội làng nhỏ mở trong tháng Giêng.
- Thăm thắng cảnh, phố hoa. Ở thành phố, du xuân có khi chỉ là dạo đường hoa, chụp ảnh với áo dài, ghé hội sách.
Khác biệt vùng miền khá rõ. Người Nam gặp Tết trong nắng ấm, du xuân thường là đi chùa, đi biển, về quê; người Bắc gặp mưa phùn, gắn với hội làng và tục hái lộc. Về hái lộc cũng có tranh luận: lắm nơi bẻ cành tràn lan làm hư cây cảnh quan, chen nhau giành lộc thành xô xát.
Một chuyến đi đẹp chỉ cần giữ vài điều: ăn mặc kín đáo khi vào nơi thờ tự, không xả rác, không chen lấn, và đừng biến lễ chùa thành cuộc đổi chác “dâng bao nhiêu, xin bấy nhiêu”.
Ở nhiều đình, đền, người đi lễ đầu năm còn thả lá keo xin keo trước ban thờ để hỏi ý thần linh về việc mình định làm.
Du xuân, khai xuân, đạp thanh: ba chữ dễ lẫn
| Từ | Là gì | Thời điểm |
|---|---|---|
| Du xuân | Đi chơi, ngắm cảnh, lễ chùa, trẩy hội đầu năm | Tết và tháng Giêng |
| Khai xuân | Chuỗi việc “mở hàng” năm mới: khai trương, khai bút, lễ khai xuân của cơ quan | Những ngày đầu năm, thường chọn ngày tốt |
| Xuất hành | Lần đầu tiên bước ra khỏi nhà trong năm | Sau giao thừa hoặc sáng mùng Một |
| Đạp thanh | Giẫm lên cỏ xanh, đi chơi đồng nội | Tiết Thanh minh, khoảng tháng Ba âm lịch |
Khai xuân thiên về nghi thức mở đầu công việc, có thể xem kĩ ở bài lễ mở đầu năm mới của nhà buôn. Du xuân thì thiên về vui chơi, thưởng cảnh. Còn đạp thanh là cuộc chơi xuân muộn hơn, khi đã sang cuối xuân.
Cuộc chơi xuân trong trang Kiều
Học sinh lớp 9 gặp một cuộc du xuân nổi tiếng trong đoạn trích Cảnh ngày xuân của Truyện Kiều. Nguyễn Du viết:
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Bốn câu cho thấy hai mặt của một cuộc chơi xuân xưa: phần lễ (sửa sang mộ người đã khuất) và phần hội (dạo chơi đồng cỏ). Dòng người “nô nức” như chim yến chim oanh là cảnh trẩy hội rất Việt dù câu chuyện đặt ở Trung Hoa. Phân tích từng câu có trong bài soạn đoạn trích chị em Kiều đi chơi xuân.
Đi du xuân: vài điều người hay tìm
Đi du xuân là đi đâu?
Đi đâu cũng được, miễn là ra ngoài vui cảnh đầu năm. Phổ biến nhất là chùa, đền, các lễ hội tháng Giêng và thắng cảnh gần nhà. Nhiều gia đình kết hợp du xuân với về quê thăm họ hàng.
Du xuân đầu năm kéo dài đến khi nào?
Thường từ mùng Một đến hết tháng Giêng âm lịch, cao điểm quanh rằm tháng Giêng. Một số hội lớn còn mở kéo dài sang tháng Hai, tháng Ba.
Du xuân và khai xuân khác nhau thế nào?
Du xuân là đi chơi, thưởng cảnh, lễ bái. Khai xuân là những việc mở đầu năm làm ăn, học hành như khai trương, khai bút. Một người có thể vừa khai xuân ở cửa hàng buổi sáng, vừa đi du xuân buổi chiều.
Du xuân tiếng Anh là gì?
Có thể dịch là spring outing hoặc diễn giải going out to enjoy the spring / the Lunar New Year festivities. Không có một từ tiếng Anh đơn lẻ mang trọn sắc thái lễ chùa, hái lộc của du xuân.