Số từ là những từ chỉ số lượng hoặc thứ tự của sự vật, như một, hai, mười, vài, dăm trong “hai quyển vở”, “vài hôm” hay ba trong “tầng ba”. Đây là kiến thức tiếng Việt học sinh gặp ở lớp 7 trong cả ba bộ sách hiện hành. Bài dưới đây đi qua khái niệm, các loại, cách nhận ra và bài tập có đáp án.
| Khái niệm | Từ chỉ số lượng hoặc thứ tự của sự vật |
| Thuộc | Từ loại tiếng Việt, thường làm thành phần phụ trong cụm danh từ |
| Các loại | Chỉ số lượng (chính xác, ước chừng) và chỉ thứ tự |
| Dấu hiệu nhận biết | Chỉ số lượng thì đứng trước danh từ; chỉ thứ tự thì đứng sau danh từ |

Số từ là gì?
Thử đọc hai cụm: “ba lớp” và “lớp ba”. Cùng một chữ ba, chỉ đổi chỗ mà nghĩa khác hẳn. Cụm đầu nói có bao nhiêu lớp; cụm sau nói lớp nào trong dãy. Số từ làm đúng hai việc ấy: cho biết bao nhiêu và cho biết thứ mấy.
Sách Ngữ văn 7 bộ Kết nối tri thức đưa số từ vào phần Thực hành tiếng Việt của Bài 3 (tập một, trang 64); bộ Cánh diều dạy ở Bài 3 tập một, lấy ngữ liệu từ đoạn trích Bạch tuộc; bộ Chân trời sáng tạo dạy ở tập hai, trang 54. Các sách đều mô tả số từ qua vị trí và chức năng của nó bên cạnh danh từ, chứ không chỉ học thuộc một câu định nghĩa.
Vị trí ấy là vị trí trong cụm danh từ. Ở “hai con mèo mướp”, danh từ trung tâm là mèo, còn hai là phần phụ đứng trước. Muốn nắm chắc phần này, xem thêm vị trí của số từ trong cụm danh từ.
Số từ chia làm mấy loại?
Gom lại từ các bộ sách, có thể chia số từ thành hai nhóm lớn, nhóm đầu lại tách làm hai.
- Số từ chỉ số lượng chính xác: một, hai, ba, mười lăm, một trăm, hai nghìn… Đếm được đến từng đơn vị. Ví dụ: Mẹ mua bốn cân gạo nếp.
- Số từ chỉ số lượng ước chừng: vài, dăm, mấy, dăm ba, mươi, một hai, ba bốn… Chỉ con số áng chừng. Ví dụ: Đợi tớ dăm phút nhé.
- Số từ chỉ thứ tự: chữ số đứng sau danh từ, hoặc đi cùng chữ thứ. Ví dụ: tầng năm, trang mười hai, bạn đứng thứ hai trong hàng.
Nhóm ước chừng hay bị bỏ sót vì trông không giống “con số”. Thế nhưng câu “ngồi với nhau mấy tiếng” vẫn trả lời được câu hỏi bao nhiêu, chỉ là trả lời không chính xác.
Số từ khác lượng từ và danh từ chỉ đơn vị ra sao?
| Loại từ | Ví dụ | Điểm khác |
|---|---|---|
| Số từ | hai, mười, vài, mấy | Cho biết một con số cụ thể hoặc áng chừng |
| Lượng từ | những, các, mọi, mỗi, từng, cả | Chỉ lượng nhiều hay ít, toàn thể hay từng cá thể, không gắn với con số |
| Danh từ chỉ đơn vị | đôi, cặp, chiếc, con | Là danh từ, dùng để đo đếm; đứng ở chỗ danh từ chứ không ở chỗ số từ |
So “hai mắt” với “đôi mắt”: chữ hai là số từ, còn đôi là danh từ chỉ đơn vị. Bằng chứng là đôi đứng được sau số từ: “một đôi mắt”, “hai đôi dép”. Không ai nói “một hai mắt”. Danh từ đơn vị thì có thể xem lại ở bài danh từ và những nhóm danh từ thường gặp.
Lượng từ (những, các, mọi…) từng được dạy chung một bài với số từ trong sách Ngữ văn 6 chương trình cũ. Hai loại gần nhau vì đều nói tới lượng, nhưng chỉ số từ mới đếm.
Bốn cách nhận ra một số từ
- Đặt câu hỏi “bao nhiêu?” hoặc “mấy?”: từ trả lời được là số từ chỉ số lượng. “Lớp có bốn mươi bạn” – bao nhiêu bạn? bốn mươi.
- Hỏi “thứ mấy?”: từ đứng sau danh từ trả lời được câu này là số từ chỉ thứ tự. “Nhà ở tầng sáu.”
- Nhìn vị trí: trước danh từ là đếm, sau danh từ là xếp thứ. Giữa số từ và danh từ chỉ sự vật thường có danh từ đơn vị chen vào: “ba quả cam”.
- Loại trừ trường hợp số dùng làm tên: ở Nam Bộ, người ta gọi nhau theo thứ bậc trong nhà như chị Hai, anh Sáu. Khi đó chữ số đã thành tên riêng, viết hoa, không còn là số từ.
Thêm một lưu ý: trong thành ngữ, số từ thường không đếm thật. “Trăm công nghìn việc” chỉ rất nhiều việc; “ba chìm bảy nổi” chỉ đời lận đận. Gặp số từ trong câu thơ, câu thành ngữ, nên hỏi xem nó đếm hay nó gợi.
Số từ trong Truyện Kiều và ca dao
Văn chương cổ dùng số từ nhiều hơn người ta tưởng, và ít khi chỉ để đếm.
Trăm năm trong cõi người ta,
Câu mở đầu Truyện Kiều của Nguyễn Du có số từ trăm. Không ai hiểu đúng một trăm năm; “trăm năm” là cách nói cả một đời người. Số từ chính xác về hình thức nhưng được dùng như số ước lệ, làm câu thơ mang giọng chiêm nghiệm.
Đầu lòng hai ả tố nga,
Ở câu này, hai lại là số lượng thật: hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Con số mở ra bố cục của cả đoạn: tả chung hai người rồi tả riêng từng người, như trong văn bản Chị em Thúy Kiều ở lớp 9.
Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Trong câu ca dao, một và ba đặt đối nhau. “Một” là đơn lẻ, “ba” là số nhiều tượng trưng cho tập thể. Tác dụng: phép đối số từ làm bài học về đoàn kết hiện ra rõ, dễ nhớ.
Trong truyện, số từ lại hay giúp người đọc hình dung kích thước, số lượng. Phần thực hành của bài soạn văn bản Bạch tuộc sách Cánh diều yêu cầu tìm các tổ hợp số từ đi với danh từ chỉ kích thước con vật và nói chúng giúp gì cho việc hình dung, một dạng câu hỏi hay gặp lại trong đề kiểm tra.
Luyện tay với năm câu về số từ
Câu 1: Tìm số từ trong câu “Sáng nay, mẹ mua ba bó rau và vài quả chanh ở chợ.”
Đáp án: ba (số lượng chính xác) và vài (số lượng ước chừng). Chữ bó, quả là danh từ chỉ đơn vị.
Câu 2: Trong hai cụm “hai tầng” và “tầng hai”, số từ nào chỉ thứ tự?
Đáp án: chữ hai trong “tầng hai”, vì nó đứng sau danh từ và trả lời câu hỏi “tầng thứ mấy?”. Ở “hai tầng”, số từ chỉ số lượng.
Câu 3: Từ “đôi” trong “đôi bàn tay” có phải số từ không?
Đáp án: Không. Đôi là danh từ chỉ đơn vị, có thể đứng sau số từ (“một đôi bàn tay”). Số từ thật thì không đứng sau một số từ khác như thế.
Câu 4: Xác định số từ và cho biết số từ ấy đếm thật hay mang nghĩa ước lệ: “Anh ấy trăm công nghìn việc mà vẫn nhớ sinh nhật bạn.”
Đáp án: trăm và nghìn là số từ, nhưng mang nghĩa ước lệ, chỉ rất nhiều việc chứ không phải đúng một trăm, một nghìn.
Câu 5: Trong câu “Chú Bảy dắt theo mấy đứa cháu ra đồng.”, từ nào là số từ?
Đáp án: mấy là số từ chỉ số lượng ước chừng. Bảy trong “chú Bảy” là tên gọi theo thứ bậc, viết hoa, nên không tính là số từ.
Số từ dưới góc nhìn của bài kiểm tra
Số từ là gì lớp 7?
Là từ chỉ số lượng (chính xác hoặc ước chừng) và thứ tự của sự vật. Học sinh lớp 7 cần nhận ra số từ trong câu, phân loại và nêu tác dụng của nó, nhất là trong thơ và truyện.
Số từ đứng ở đâu trong câu?
Số từ chỉ số lượng đứng trước danh từ (hai quyển sách), số từ chỉ thứ tự đứng sau danh từ (quyển hai). Khi đứng một mình, nó thường thay cho cả cụm đã nhắc trước đó: “Lớp em có ba tổ, tổ ba trực nhật.”
Số từ và lượng từ khác nhau thế nào?
Số từ nêu con số, chính xác hoặc áng chừng. Lượng từ như những, các, mọi, mỗi chỉ lượng chung chung, toàn thể hay từng cái một, không đếm. Tổng quan về các từ loại khác có ở bài bức tranh chung về từ loại tiếng Việt.
“Thứ nhất, thứ hai” khi liệt kê ý có phải số từ không?
Có. Chữ số trong “thứ nhất”, “thứ hai” chỉ thứ tự. Riêng chữ nhất là số Hán Việt dùng thay cho “một” ở vị trí thứ tự, nên ta nói “thứ nhất” chứ ít khi nói “thứ một”.