Lượng từ là những từ chỉ lượng ít hay nhiều của sự vật một cách khái quát, không nêu con số cụ thể, như các, những, mọi, mỗi, từng, cả, tất cả. Lượng từ trong tiếng Việt thường đứng trước danh từ và được học cùng số từ ở Ngữ văn 6. Lưu ý đây là thuật ngữ ngữ pháp, khác hẳn “lượng tử” trong vật lí.
| Nghĩa ngắn | Từ chỉ lượng nhiều hay ít của sự vật, nói chung chung chứ không đếm chính xác |
| Hai nhóm | Chỉ ý nghĩa toàn thể (cả, tất cả, hết thảy…) và chỉ ý nghĩa tập hợp hoặc phân phối (các, những, mọi, mỗi, từng…) |
| Vị trí | Đứng trước danh từ, ở phần phụ trước của cụm danh từ |
| Dễ nhầm với | Số từ (một, hai, ba…), trợ từ “những” khi nhấn mạnh |
| Học ở | Bài “Số từ và lượng từ”, Ngữ văn 6 chương trình cũ, tập một, trang 128–129 |

Lượng từ: báo lượng mà không cần đếm
Khi cô giáo nói “các em mở sách ra”, không ai thắc mắc lớp có bao nhiêu em. Chữ các chỉ cho biết đây là số nhiều và là cả nhóm đang có mặt. Đó là bản chất của lượng từ: báo lượng, nhưng bằng một ý khái quát chứ không bằng con số. Sách Ngữ văn 6 cũ, bài Số từ và lượng từ, nêu lượng từ là những từ chỉ lượng ít hay nhiều của sự vật; trang Wikipedia tiếng Việt về ngữ pháp tiếng Việt dùng gần đúng câu đó, thêm cụm “một cách khái quát” và lấy ví dụ những, cả mấy, các.
Vì đứng trước danh từ, lượng từ là một thành phần của phần phụ trước trong cụm danh từ. Trong cụm tất cả những học sinh chăm ngoan ấy, hai lượng từ tất cả và những đứng nối nhau ở đầu, sau đó mới tới danh từ trung tâm. Muốn xem lại mô hình đầy đủ của loại cụm này, đọc bài cụm danh từ và phần phụ trước, phụ sau.
Cụm mọi người còn có nhiều cách nói thay như ai nấy, ai ai, toàn thể, được so sắc thái trong đồng nghĩa, trái nghĩa với mọi người.
Lượng từ khác số từ ở chỗ nào?
Hai loại từ học chung một bài và cùng đứng trước danh từ, nên học sinh rất hay gộp làm một. Bảng dưới tách chúng ra theo từng tiêu chí.
| Tiêu chí | Số từ | Lượng từ |
|---|---|---|
| Ý nghĩa | Chỉ số lượng chính xác hoặc thứ tự | Chỉ lượng nhiều, ít một cách khái quát |
| Ví dụ | hai quyển vở, tầng ba, một trăm ván cơm nếp | những quyển vở, các tầng, mọi ván cơm |
| Vị trí | Thường đứng trước danh từ; số từ chỉ thứ tự đứng sau | Luôn đứng trước danh từ |
| Trả lời câu | “Mấy? Bao nhiêu? Thứ mấy?” | “Nhiều hay ít? Cả hay từng phần?” |
Còn có một nhóm thứ ba hay bị lẫn vào: danh từ chỉ đơn vị như đôi, cặp, tá, chục. Trong “mỗi thứ một đôi”, đôi không phải số từ cũng không phải lượng từ mà là danh từ chỉ đơn vị, vì nó đứng sau số từ một, đúng chỗ của danh từ. Bài phân loại số từ và cách nhận biết có ví dụ riêng cho trường hợp này.
Hai nhóm lượng từ trong sách Ngữ văn 6
Nhóm chỉ ý nghĩa toàn thể
Gồm cả, tất cả, tất thảy, hết thảy, cả thảy, toàn thể, toàn bộ. Những từ này ôm trọn mọi cá thể trong phạm vi được nói tới, không chừa ai: toàn thể học sinh, tất cả bài tập. Trong cụm danh từ, nhóm này đứng ngoài cùng bên trái.
Nhóm chỉ ý nghĩa tập hợp hoặc phân phối
Gồm các, những, mọi, mỗi, từng. Bên trong nhóm lại có hai hướng ngược nhau. Các, những, mọi gom nhiều cá thể thành một tập hợp. Mỗi, từng thì tách tập hợp ra, nói đến từng cá thể một. So hai câu “mọi người đều đến” và “mỗi người mang một món” sẽ thấy rõ: câu đầu nhìn cả đám đông, câu sau nhìn vào tay từng người.
Các và những cũng không hoàn toàn thay nhau được. Các thường chỉ toàn bộ một nhóm đã xác định (“các bạn lớp 6A”), còn những hay nói một phần hoặc nhấn vào số nhiều (“những ngày mưa dầm”). Đây là xu hướng dùng, có ngoại lệ, chứ không phải luật cứng.
Lượng từ trong Sơn Tinh, Thạch Sanh và tục ngữ
Bài Số từ và lượng từ lấy ví dụ từ chính các truyện dân gian vừa học, nên ôn lượng từ cũng là dịp đọc lại truyện.
Đoạn cuối truyện Thạch Sanh (xem bài soạn Thạch Sanh lớp 6 sách Kết nối) có ba lượng từ đứng gần nhau: các hoàng tử phải cởi giáp xin hàng, Thạch Sanh dọn cơm thết đãi những kẻ thua trận, và cả mấy vạn tướng lĩnh, quân sĩ bĩu môi khi thấy niêu cơm tí xíu. Các và những gom quân thua trận thành từng nhóm; cả đẩy con số lên thành một khối người đông nghịt, làm cho niêu cơm nhỏ bé càng tương phản, và phép lạ ăn mãi không hết càng đáng kinh ngạc.
Trong Sơn Tinh, Thủy Tinh, câu tả thần núi “bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi” dùng từng để kể lần lượt, cái này tới cái kia, như một trận dời non liên tục không nghỉ. Còn câu kể chuyện Lê Lợi cùng các tướng rút lui “mỗi người một ngả” trong Sự tích Hồ Gươm thì dùng mỗi để nhấn sự tách ra, không theo thứ tự nào. Sách hỏi chính sự khác nhau này: từng có nghĩa lần lượt, mỗi nhấn mạnh từng cá thể riêng.
Tục ngữ “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” lặp mỗi bốn lần. Nhờ lượng từ phân phối, câu nói biến thành một lời nhắc rằng nhà nào cũng có hoàn cảnh riêng, đừng vội đem chuyện nhà này so với nhà khác.
Mẹo nhận ra lượng từ trong cụm danh từ
- Thay bằng con số. Thử thay từ đang xét bằng ba hoặc năm. Thay được mà câu chỉ đổi từ “chung chung” sang “chính xác” thì từ đó là lượng từ: những bông hoa → ba bông hoa.
- Nhìn sau lưng nó. Lượng từ luôn có danh từ theo sau. Các, mọi không đứng một mình cuối câu được.
- Cẩn thận với “những” đứng trước số từ. Trong “Nó ăn những ba bát cơm”, những không chỉ lượng mà nhấn mạnh là nhiều, tỏ ý ngạc nhiên. Khi đó nó là trợ từ, xem thêm trợ từ nhấn mạnh và cách phân biệt.
- Đừng gọi “mấy” là lượng từ quá vội. Mấy trong “mấy quyển sách” chỉ số lượng ước chừng nên nhiều tài liệu xếp vào số từ; trong “cả mấy vạn” nó đi kèm số từ vạn. Gặp trong bài thi thì nên theo cách gọi của sách đang học.
Bài tập về số từ và lượng từ có đáp án
Câu 1: Tìm lượng từ trong câu “Mọi người trong xóm đều góp tay dựng lại các mái nhà sau bão.”
Đáp án: Hai lượng từ là mọi (trong mọi người) và các (trong các mái nhà). Cả hai thuộc nhóm chỉ ý nghĩa tập hợp, gom nhiều cá thể thành một khối.
Câu 2: Xếp các từ sau vào hai nhóm số từ và lượng từ: hai, những, thứ năm, mỗi, một trăm, tất cả, từng, mười.
Đáp án: Số từ: hai, thứ năm, một trăm, mười. Lượng từ: những, mỗi, tất cả, từng. Riêng thứ năm là số từ chỉ thứ tự, khi dùng thường đứng sau danh từ (tầng thứ năm).
Câu 3: Phân biệt nghĩa của “từng” và “mỗi” trong hai câu: (a) “Mẹ nhặt từng hạt thóc rơi.” (b) “Mỗi bạn nộp một bức tranh.”
Đáp án: (a) Từng gợi sự lần lượt, hết hạt này tới hạt khác, qua đó thấy sự cần mẫn, tỉ mỉ của mẹ. (b) Mỗi nhấn mạnh sự tách riêng: bạn nào cũng phải nộp, mỗi người một bức, không bàn tới thứ tự.
Câu 4: Chữ “những” trong hai câu sau có cùng từ loại không: (a) “Những chiếc lá vàng rơi đầy sân.” (b) “Cậu ấy chạy những năm vòng sân.”
Đáp án: Không. (a) Những là lượng từ, đứng trước danh từ “chiếc lá” để chỉ số nhiều. (b) Những đứng trước số từ “năm”, nhấn mạnh là nhiều so với dự đoán, nên là trợ từ.
Câu 5: Viết đoạn văn ba câu tả sân trường giờ ra chơi, dùng ít nhất một lượng từ chỉ toàn thể và một lượng từ phân phối.
Đáp án tham khảo: “Tiếng trống vừa dứt, cả sân trường bỗng ồn ào hẳn lên. Mỗi góc sân có một trò chơi riêng: nhảy dây, đá cầu, ô ăn quan. Những tán bàng xòe rộng che mát cho mấy bạn ngồi đọc truyện.” Lượng từ toàn thể là cả; lượng từ phân phối là mỗi; những là lượng từ tập hợp.
Khi viết văn, lỗi thừa lượng từ rất dễ gặp: “tất cả mọi người đều” là cách nói dư, vì tất cả và mọi cùng chỉ toàn bộ. Chỉ giữ một trong hai là đủ.
Lượng từ trong đề kiểm tra lớp 6
Lượng từ là gì lớp 6, có trong sách mới không?
Lượng từ có bài riêng ở Ngữ văn 6 chương trình cũ, học cùng số từ. Sách mới không tách thành một bài tên “lượng từ”, nhưng khi học cụm danh từ ở lớp 6 vẫn gặp lại các từ các, những, mọi, mỗi ở phần phụ trước.
Lượng từ trong tiếng Việt có giống lượng từ tiếng Trung không?
Không giống. Trong tiếng Trung, “lượng từ” là tên gọi các từ chỉ đơn vị đếm như 个, 本, 张, gần với danh từ chỉ đơn vị của tiếng Việt (cái, quyển, tờ). Lượng từ trong ngữ pháp tiếng Việt lại là các, những, mọi, mỗi, chỉ lượng khái quát.
Số từ và lượng từ có thể đi cùng nhau không?
Có, nhưng không phải cặp nào cũng được. Có thể nói cả ba người, tất cả mười bạn, nhưng không nói “các ba người”. Lượng từ chỉ toàn thể thường đứng trước số từ, làm rõ là trọn cả nhóm đã đếm.
Lượng từ là gì, cho ví dụ ngắn dễ nhớ?
Lượng từ là từ chỉ lượng nhiều, ít một cách chung chung. Ví dụ ngắn: các bạn, những cánh diều, mọi nhà, mỗi sáng, từng bước, tất cả học sinh.