Quê hương là quê của mình, nhìn từ phía tình cảm: nơi mình sinh ra hoặc lớn lên, nơi ông bà cha mẹ đã sống, nơi mình thấy gắn bó tự nhiên mà không cần ai dạy. Hỏi “quê hương nghĩa là gì” thì từ điển còn cho thêm một nét nghĩa nữa: nơi một thứ gì đó ra đời rồi lan đi khắp nơi.
| Nghĩa ngắn | Quê của mình, nơi có sự gắn bó tự nhiên về tình cảm |
| Nghĩa mở rộng | Nơi một sự vật, một nghề, một môn chơi ra đời |
| Cấu tạo | Từ ghép: quê (tiếng Việt) + hương (鄉, Hán Việt: làng, quê) |
| Loại từ | Danh từ |
| Sắc thái | Trang trọng, giàu cảm xúc hơn “quê”, “quê quán” |

Hai nét nghĩa của quê hương trong từ điển
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê xếp quê hương là danh từ và tách hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất là cái nghĩa ai cũng hiểu: quê của mình, nhưng được nói tới ở mặt tình cảm. Chữ “về mặt” ấy quan trọng. Quê là một địa danh ghi trên giấy tờ; quê hương là cái địa danh ấy khi nó đã thành nỗi nhớ. Vì thế người ta nói nỗi nhớ quê hương, tình yêu quê hương, chứ ít ai nói “nỗi nhớ quê quán”.
Nghĩa thứ hai rộng hơn: nơi một thứ được sinh ra lần đầu rồi từ đó đi khắp nơi. Ví dụ: nước Anh được xem là quê hương của bóng đá hiện đại, Bát Tràng là quê hương của gốm sứ đất Bắc. Ở nghĩa này không còn chuyện nhớ thương, chỉ còn chuyện gốc gác.
Ngoài hai nghĩa của từ điển, quê hương còn được dùng rộng cho cả đất nước, nhất là trong cụm quê hương đất nước hay khi một người sống ở nước ngoài nói về Việt Nam. Từ một xóm nhỏ đến cả một dải đất, tầm vóc của chữ tùy người nói đứng ở đâu.
Chữ hương 鄉 và cái làng của người xưa
Trong hai tiếng, quê là tiếng Việt, còn hương mượn chữ Hán 鄉. Từ điển Hán Việt giảng chữ này có ba nghĩa chính: làng (một đơn vị hành chính thời cổ), vùng thôn quê đối lập với thành thị, và quê nhà, nơi mình sinh trưởng. Ghép một tiếng thuần Việt với một tiếng Hán Việt cùng nghĩa là cách tạo từ khá quen, giống xe cộ, cây cối, chỉ khác là ở đây hai tiếng cùng chỉ một chốn.
Họ hàng của chữ hương 鄉 trong tiếng Việt khá đông: cố hương (quê cũ), hồi hương (về quê), tha hương (quê người), đồng hương (người cùng quê), hương ước (lệ làng). Đừng lẫn với hương 香 là mùi thơm, cũng đọc y hệt nhưng là chữ khác hẳn.
Quê hương, quê quán, quê nhà: đặt cạnh nhau
| Từ | Thiên về | Câu ví dụ |
|---|---|---|
| Quê hương | Tình cảm, sự gắn bó; có thể rộng tới cả đất nước | Đi đâu bà cũng mang theo giọng nói của quê hương. |
| Quê quán | Thông tin hành chính trên giấy tờ, thường theo quê của cha hoặc mẹ | Ô “quê quán” trong sơ yếu lý lịch ghi tên một xã em chưa về lần nào. |
| Quê nhà | Nơi có nhà, có gia đình đang chờ, giọng gần gũi | Tết này cả nhà về quê nhà ăn cỗ. |
| Cố hương | Quê cũ, giọng văn chương, thường nói khi đã đi xa lâu | Mấy chục năm sau ông mới trở lại cố hương. |
| Tha hương | Trái nghĩa: quê người, nơi mình đến sống chứ không phải gốc | Những năm tha hương, anh hay nằm mơ thấy bến đò. |
Cách nói dân gian nơi chôn rau cắt rốn và cụm quê cha đất tổ cũng là những cách gọi quê hương, nặng tình hơn nữa. Bảng trên cho thấy một chuyện thú vị: quê quán có thể là nơi mình chưa từng sống, còn quê hương thì phải có kỉ niệm. Một bạn sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, quê quán ghi Nghệ An, hoàn toàn có thể nói Hà Nội là quê hương mình.
Vì sao quê hương không có từ trái nghĩa thật, và nhóm từ đồng nghĩa đầy đủ, xem bài đồng nghĩa, trái nghĩa với quê hương.
Quê hương đi vào ca dao và thơ
Người Việt nói nhớ quê hương thường không nói thẳng, mà gọi tên những thứ rất nhỏ. Bài ca dao quen thuộc mở đầu bằng hai câu:
Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Không một chữ “yêu”, không một chữ “quê hương”, chỉ có bát canh, quả cà. Nỗi nhớ được nói qua món ăn rẻ nhất trong mâm cơm, nên càng thật. Học sinh lớp 6 gặp lại cách nói ấy trong bài soạn chùm ca dao về non sông đất Việt.
Thơ hiện đại đi tiếp con đường đó. Tế Hanh gọi quê hương bằng cánh buồm, mùi nồng mặn của làng chài trong bài Quê hương; xem bài soạn Quê hương của Tế Hanh. Đỗ Trung Quân thì chọn chùm khế ngọt, con đường đi học, con diều biếc. Mỗi người một hình ảnh, nhưng điểm chung là quê hương luôn hiện ra bằng thứ cụ thể có thể chạm vào. Muốn đọc thêm, có tuyển những bài thơ ngắn viết về làng quê và xứ sở.
Quê hương là gì đối với mỗi người: ý cho bài nghị luận?
Đề “Suy nghĩ về ý nghĩa của quê hương đối với mỗi người” xuất hiện khá thường ở bậc THCS. Có thể dựng bài quanh ba ý:
- Quê hương là nơi bắt đầu. Tiếng nói đầu tiên, món ăn đầu tiên, những người đầu tiên mình thương đều ở đó. Nhiều thói quen của mình được nặn ra từ nơi ấy trước khi mình kịp nhận biết.
- Quê hương là chỗ để quay về. Đi học xa, đi làm xa, người ta mang quê theo trong giọng nói và trong nỗi nhớ; lúc mệt mỏi nhất thì muốn về.
- Yêu quê hương là làm gì đó cho nó. Giữ gìn cảnh quan, giữ tiếng nói, nghề truyền thống, hoặc đơn giản là không nói xấu nơi mình sinh ra. Ở đây nên phê phán thái độ chối bỏ gốc gác khi đã ra thành phố.
Ý thứ hai nối rất tự nhiên với tình thân trong một mái nhà, vì với nhiều người quê hương chính là nơi bố mẹ còn đang ở.
Nếu đề yêu cầu viết về nghề truyền thống, lễ hội hay nếp sống của vùng mình, có thể mượn ví dụ và cách triển khai trong truyền thống quê hương các vùng.
Vài câu hỏi quanh chữ quê hương
Quê hương nghĩa là gì, có khác gì với “quê” không?
Về địa điểm thì gần như trùng nhau. Khác ở sắc thái: “quê” dùng hằng ngày, gọn (“về quê”, “quê em ở Huế”), còn “quê hương” trang trọng và chứa tình cảm, hợp với văn viết, bài phát biểu, lời bài hát.
Quê hương tiếng Anh là gì?
Thường dịch là hometown khi nói về thị trấn, thành phố nơi mình lớn lên, và homeland khi nói về đất nước, dân tộc. Câu “Tôi nhớ quê hương” có thể dịch là I miss my hometown hoặc I miss home, tùy ý người nói.
Một người có thể có hai quê hương không?
Có. Nhiều người coi cả nơi sinh ra lẫn nơi mình lớn lên, lập nghiệp là quê hương. Tiếng Việt còn có cách nói “quê hương thứ hai” cho trường hợp này, vì quê hương được đo bằng sự gắn bó chứ không bằng giấy khai sinh.
Quê hương đất nước là gì?
Là cách nói gộp: quê hương ở đây không chỉ là làng xã của riêng mình mà mở ra thành cả Tổ quốc. Cụm này hay gặp trong tên bài học, bài hát và đề văn về lòng yêu nước.