Quằn là bị cong, vênh đi, không còn thẳng hay sắc như ban đầu: lưỡi dao chặt phải vật cứng thì quằn lưỡi, đòn gánh chịu nặng quá thì quằn xuống. Đây là tính từ, gần nghĩa với oằn. Từ này cũng có mặt trong từ láy quằn quại (vặn mình vì đau) và trong câu tục ngữ con giun xéo lắm cũng quằn.
| Nghĩa ngắn | Cong đi, mất thẳng hoặc mất sắc vì va mạnh hay vì bị đè nặng |
| Loại từ | Tính từ |
| Gần nghĩa | Oằn, cong, oặt |
| Từ có liên quan | Quằn quại |
| Dễ lẫn với | Quặn, quăn, cùn |

Quằn, oằn, quặn hay quăn?
Bốn chữ đọc gần nhau, viết chỉ khác một dấu hay một con chữ, nhưng chỉ có hai chữ đầu là cùng nghĩa.
| Từ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Quằn | Cong đi vì va vào vật cứng hoặc vì bị đè quá nặng | Lưỡi rựa quằn; quằn cả đòn gánh |
| Oằn | Cong hẳn xuống vì phải chịu một lực quá lớn | Cành bưởi oằn vì sai quả |
| Quặn | Cảm giác như ruột bị thắt, bị xoắn lại | Bụng quặn đau; lòng quặn thắt |
| Quăn | Cuộn lại, xoăn lại | Tóc quăn; trang vở quăn mép |
Mẹo nhớ: quằn và oằn là chuyện hình dạng một vật đã bị bẻ cong; quặn là chuyện cảm giác bên trong cơ thể. Nói “đau quặn bụng” là đúng, còn “đau quằn bụng” thì lạc nghĩa. Trái nghĩa với quằn là thẳng, sắc, cứng cáp.
Hai kiểu khiến một vật bị quằn
Kiểu thứ nhất: va mạnh vào thứ cứng hơn. Lưỡi dao chém trúng đinh, mũi khoan gặp sắt, mũi dùi đâm phải đá. Đầu lưỡi hay đầu mũi bị bẻ cong, bẹt ra, không còn sắc nhọn. Chặt nhầm cục xương to, con dao phay quằn cả một khúc lưỡi.
Chỗ này nên phân biệt với cùn. Dao cùn là dao mòn dần sau nhiều lần dùng, mép lưỡi vẫn thẳng nhưng hết bén. Dao quằn là dao hỏng tức thì vì một cú va, mép lưỡi bị vặn đi, thợ phải đập lại cho thẳng rồi mới mài được.
Kiểu thứ hai: bị đè, bị kéo quá nặng. Thứ vốn thẳng bị lực lớn ép cong xuống. Hai thúng thóc đầy làm chiếc đòn gánh tre quằn xuống. Gánh nặng quằn vai. Từ đó có cách nói về người: quằn người vì đau, tức là cơ thể gập cong lại không gượng thẳng được. Nghĩa bóng cũng theo đó mà ra: một người quằn vai dưới gánh lo cơm áo, hay học trò mang những sức ép đè nặng lên vai tuổi học trò.
Con giun xéo lắm cũng quằn
Câu tục ngữ này dùng đúng nghĩa thứ hai của chữ quằn. Xéo là giẫm mạnh chân lên. Con giun là con vật nhỏ bé, mềm yếu nhất, vậy mà bị giẫm mãi cũng phải cong mình vặn lại. Ý của ông bà: kẻ yếu đến đâu, bị chèn ép quá mức thì cũng sẽ phản kháng.
Câu này hay được nói ra như một lời cảnh báo kẻ bắt nạt, cũng có khi là lời tự nhủ của người đã nhịn quá lâu. Nó khác hẳn thái độ nhẫn nhịn đến mức không dám lên tiếng, điều mà bài tính nhu nhược và cái giá của nhịn mãi có nói đến.
Từ quằn còn sinh ra từ láy quằn quại: vặn mình, vật vã vì quá đau đớn, như đau bụng quằn quại. Trong văn chương, nó được dùng cả cho nỗi đau tinh thần: quằn quại trong nỗi nhớ con. Người viết nên dành chữ này cho những cơn đau thật dữ; đau nhẹ mà viết quằn quại thì câu văn thành cường điệu.
Từ đòn gánh cong đến nỗi đau quằn quại
Quằn quại là gì?
Quằn quại là động từ, chỉ trạng thái vặn mình, vật vã vì đau đớn quá mức. Gần nghĩa có oằn oại. Ví dụ: “Bị chuột rút giữa đêm, cậu bé quằn quại trên giường.”
Con giun xéo lắm cũng quằn nghĩa là gì?
Nghĩa là người hiền lành, yếu thế đến mấy mà bị áp bức, chèn ép quá đáng thì cũng sẽ vùng lên chống lại. Câu này thường dùng để nhắc rằng sự nhẫn nhịn của người khác có giới hạn.
Viết quằn hay oằn mới đúng?
Cả hai đều đúng và gần nghĩa nhau; từ điển xếp chúng là đồng nghĩa. Nói về lưỡi dao, mũi khoan bị bẻ cong thì người ta hay dùng quằn; nói cành cây trĩu quả thì oằn nghe tự nhiên hơn.
Quằn tiếng Anh là gì?
Thường dịch là bent. Lưỡi dao bị quằn có thể nói the blade is bent; vật bị đè cong xuống dùng sag hoặc bend under the weight.