Phụ mẫu là từ Hán Việt có nghĩa là cha mẹ, gồm phụ (cha) và mẫu (mẹ). Đây là cách gọi cũ, trang trọng, nay chủ yếu gặp trong sách vở, phim cổ trang, câu đối hay lời văn tế. Phụ mẫu nghĩa là gì khi đứng trong cụm “tứ thân phụ mẫu” hay “quan phụ mẫu”? Mỗi cụm nghiêng nghĩa một kiểu, và chỗ khác nhau nằm ở chữ đứng trước.
| Nghĩa ngắn | Cha mẹ (cách nói cũ, trang trọng) |
| Chữ Hán | 父母: phụ 父 (cha) + mẫu 母 (mẹ) |
| Loại từ | Danh từ |
| Đồng nghĩa | Cha mẹ, bố mẹ, song thân, thân sinh |

Phụ mẫu: hai chữ cha và mẹ
Chữ phụ (父) nghĩa gốc là cha, bố. Nó có mặt trong khá nhiều từ quen: phụ thân (cha), nhạc phụ (bố vợ), dưỡng phụ (cha nuôi), phụ lão (các cụ già). Chữ mẫu (母) là mẹ, như trong mẫu thân, nhạc mẫu, bảo mẫu. Chữ mẫu còn được dùng cho cái gì làm gốc sinh ra cái khác, nên mới có mẫu số, hay câu “thất bại là mẹ thành công” trong tiếng Hán.
Ghép lại, phụ mẫu chỉ cả cha lẫn mẹ, như một đôi. Mục từ phụ mẫu trong từ điển Việt–Việt có ghi kèm chữ “cũ” cho từ này, nghĩa là trong lời nói thường ngày người ta không dùng nữa. Không ai đi học về lại nói “phụ mẫu con đâu rồi”; câu đó chỉ hợp khi đóng kịch cổ trang. Nhưng trên giấy, nhất là ở câu đối, văn khấn, lời cảm tạ trong đám hiếu, phụ mẫu vẫn giữ được sắc thái kính cẩn mà “bố mẹ” không có.
Phim kiếm hiệp, ngôn tình cổ trang lồng tiếng Việt cũng hay dùng nhóm từ này: con gọi cha là phụ thân, gọi mẹ là mẫu thân, còn khi nói gộp cả hai thì là phụ mẫu hay song thân.
Phụ mẫu trong sách xưa và trang văn
Sách Luận ngữ, thiên Lý nhân, chép lời Khổng Tử: Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương (父母在,不遠遊,遊必有方). Đại ý: cha mẹ còn sống thì con không đi xa; nếu phải đi thì phải có nơi đến rõ ràng. Nhiều người chỉ nhớ nửa đầu rồi hiểu thành “cấm đi xa”; nửa sau mới là chỗ tinh tế, vì nó cho phép đi, chỉ cần cha mẹ biết con ở đâu mà yên lòng. Đặt vào thời điện thoại bây giờ, câu ấy gần với lời dặn quen thuộc: đi đâu nhớ nhắn về nhà.
Trong văn học Việt Nam, chữ phụ mẫu xuất hiện trong một cụm nổi tiếng hơn nhiều: quan phụ mẫu. Xưa gọi viên quan cai trị một phủ, một huyện là “cha mẹ của dân”, với ý ông ta phải lo cho dân như cha mẹ lo cho con. Truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn dùng đúng danh xưng ấy để mỉa mai: ngoài đê dân vật lộn với nước lũ, còn trong đình, quan phụ mẫu ngồi mải mê đánh tổ tôm. Cái danh “cha mẹ dân” càng đẹp thì hành động của nhân vật càng lố.
Còn để nói về công ơn cha mẹ, kho ca dao, tục ngữ về công cha nghĩa mẹ dùng toàn lời nôm mộc mạc, gần như không cần đến chữ Hán.
Phụ mẫu, song thân, phụ huynh dùng sao cho đúng?
| Từ | Nghĩa | Dùng ở đâu |
|---|---|---|
| Phụ mẫu | Cha mẹ | Văn viết trang trọng, câu đối, văn tế, phim cổ trang |
| Song thân | Cha mẹ (đôi người thân) | Văn viết trang trọng: “phụng dưỡng song thân” |
| Thân sinh | Người sinh ra mình | Giấy tờ, tiểu sử: “thân sinh của ông là…” |
| Phụ huynh | Gốc chữ là cha và anh; nay chỉ người giám hộ học sinh | Trường học: họp phụ huynh |
| Tứ thân phụ mẫu | Bốn người: cha mẹ đẻ và cha mẹ chồng hoặc vợ | Chuyện cưới hỏi, gia đình hai bên |
Chỗ hay lẫn nhất là phụ mẫu với phụ huynh. Phụ huynh (父兄) vốn là “cha và anh”, tức những người đàn ông bề trên trong nhà; tiếng Việt hiện đại dùng nó cho người lo việc học của con em, không phân biệt là cha, mẹ hay ông bà. Viết “kính gửi quý phụ mẫu học sinh” vào giấy mời họp lớp thì nghe rất lạ.
Thêm hai chữ tứ thân phía trước, nghĩa đổi hẳn: không còn là hai người mà là bốn. Phần giải nghĩa tứ thân phụ mẫu gồm những ai nói rõ cách tính. Người giữ đạo làm con với cả bốn vị ấy được khen là người con hiếu thảo.
Một lưu ý nhỏ khi viết văn tế, câu đối: đã dùng “phụ mẫu” thì các chữ xung quanh cũng nên cùng một giọng Hán Việt. Câu “Phụ mẫu của tôi rất thương tôi” đúng nghĩa nhưng lệch giọng, đọc lên như đang đùa.
Một chữ Hán Việt khác chỉ người trong nhà, hay gặp trong Hịch tướng sĩ, là chữ thê tử, và nhiều bạn vẫn lúng túng không biết nên hiểu là vợ con hay chỉ người vợ.
Những cụm có chữ phụ mẫu thường gặp
Phụ mẫu nghĩa là gì trong tiếng Hán?
Trong tiếng Hán, 父母 cũng có nghĩa là cha mẹ, đọc theo âm Bắc Kinh là fùmǔ. Người Việt mượn nguyên từ này và đọc theo âm Hán Việt.
Quan phụ mẫu là ai?
Là cách gọi xưa dành cho quan đứng đầu một phủ, một huyện, ngụ ý quan phải chăm dân như cha mẹ chăm con. Trong văn học hiện thực, cụm này thường được dùng với giọng châm biếm.
Phụ mẫu và phụ thân khác nhau thế nào?
Phụ thân chỉ riêng người cha; mẫu thân chỉ riêng người mẹ. Phụ mẫu là gộp cả hai.
Phụ mẫu có dùng trong giấy tờ bây giờ không?
Hầu như không. Giấy tờ hành chính dùng “cha”, “mẹ”, “cha mẹ” hoặc “người giám hộ”. Phụ mẫu chỉ còn trong văn chương, nghi lễ và lời nói đùa có chủ ý.