Hiếu thảo là có lòng kính yêu, biết ơn cha mẹ và ông bà, thể hiện bằng việc chăm sóc, phụng dưỡng, cư xử cho phải đạo với người sinh ra mình. Lòng hiếu thảo vì thế không dừng ở cảm xúc; nó phải hiện ra thành việc làm, từ bát nước mời bố lúc đi làm về đến những năm tháng chăm mẹ già yếu.
| Nghĩa ngắn | Kính yêu, biết ơn và hết lòng chăm sóc cha mẹ, ông bà |
| Cấu tạo | Hiếu (孝, Hán Việt: lòng thờ kính cha mẹ) + thảo (biết ăn ở phải đạo với bề trên) |
| Loại từ | Tính từ; “lòng hiếu thảo”, “sự hiếu thảo” là cách dùng như danh từ |
| Trái nghĩa | Bất hiếu |

Chữ thảo trong hiếu thảo nghĩa là gì?
Người ta hay để ý chữ hiếu mà quên mất chữ đứng sau. Thảo là một tính từ có nghĩa riêng: rộng rãi, hay nhường nhịn, như khi khen một đứa trẻ “tính con bé thảo lắm”, có quà là chia cho em. Từ điển còn ghi nét nghĩa thứ hai, gần với hiếu: biết ăn ở phải đạo, quan tâm chăm sóc cha mẹ và người bề trên trong nhà. Câu “dâu hiền rể thảo” dùng đúng nét nghĩa này.
Đặt hai chữ cạnh nhau, hiếu thảo vừa có cái gốc đạo lí (hiếu với cha mẹ), vừa có cái ấm áp thường ngày (thảo, biết nhường, biết lo cho người khác). Mục từ hiếu thảo trong từ điển tiếng Việt giảng gọn là có lòng kính yêu cha mẹ, ghi hiếu hạnh là từ đồng nghĩa và bất hiếu là từ trái nghĩa.
Chữ hiếu đứng một mình cũng có mấy nghĩa dễ lẫn:
- Hiếu là lòng kính yêu, biết ơn cha mẹ: giữ tròn chữ hiếu, người con có hiếu.
- Hiếu còn chỉ việc tang của cha mẹ, ông bà: nhà có hiếu, chít khăn hiếu, việc hiếu việc hỉ.
- Hiếu trong hiếu học, hiếu khách, hiếu thắng là một chữ khác hẳn (好), nghĩa là ham thích, coi trọng.
Chữ 孝: người con đỡ lấy người già
Chữ 孝 là chữ hội ý, ghép từ hai phần. Phía trên là 耂, dạng viết gọn của chữ lão (老, người già). Phía dưới là 子, chữ tử (con). Nhìn hình chữ, nhiều người hình dung đứa con đứng dưới đỡ lấy cha mẹ già. Cách hình dung ấy giúp nhớ chữ, và cũng nói đúng tinh thần của nó: hiếu là chuyện của người con khi cha mẹ cần đến mình.
Trong sách Nho, hiếu được đặt rất cao. Luận ngữ dặn con em ở trong nhà thì hiếu với cha mẹ, ra ngoài thì kính nhường người lớn. Hiếu Kinh coi hiếu là gốc của mọi đức. Người Trung Quốc thường nói 孝順 (hiếu thuận), nhấn vào sự thuận theo; người Việt quen nói hiếu thảo, nghe mềm và gần gũi hơn.
Công cha nghĩa mẹ trong ca dao và truyện cổ
Câu ca dao gần như ai cũng thuộc từ hồi tiểu học:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Hai câu đầu đo công ơn bằng thứ to nhất (núi) và thứ không bao giờ cạn (nước nguồn). Hai câu sau mới là lời dặn: biết ơn thôi chưa đủ, phải “thờ”, phải “kính” thì chữ hiếu mới tròn. Nhiều câu cùng chủ đề được gom ở trang những câu ca dao dạy con giữ chữ hiếu.
Truyện cổ thì kể hiếu thảo bằng việc làm. Có cô bé xé cánh hoa để kéo dài tuổi mẹ trong sự tích hoa cúc trắng. Có chuyện người em út vượt núi Trúc Lĩnh tìm thuốc cứu cha, trong khi hai người anh vẫn mải rong chơi. Truyện ngắn, dễ kể lại, hợp để dẫn chứng trong bài viết của học sinh.
Hiếu thảo, hiếu thuận, có hiếu và bất hiếu
| Từ | Nghĩa, sắc thái |
|---|---|
| Hiếu thảo | Kính yêu, biết ơn, chăm sóc cha mẹ; dùng phổ biến nhất |
| Có hiếu | Cách nói khẩu ngữ, nghĩa gần như hiếu thảo |
| Hiếu hạnh | Đồng nghĩa, nghe trang trọng, nay ít dùng |
| Hiếu thuận | Hiếu thảo và thuận theo ý cha mẹ; nhấn vào sự vâng lời |
| Bất hiếu | Trái nghĩa: không làm tròn đạo con, bỏ bê hoặc xúc phạm cha mẹ |
Hiếu thảo không đồng nghĩa với việc gì cũng chờ cha mẹ quyết hộ. Một người lớn rồi vẫn để mẹ chọn bạn, chọn việc, chọn cả bữa ăn thì lại là chuyện khác, gần với kiểu con trai việc gì cũng hỏi mẹ. Ranh giới nằm ở chỗ: người con hiếu thảo lo cho cha mẹ, còn người dựa dẫm thì để cha mẹ lo cho mình mãi.
Chọn có hiếu, hiếu thuận hay chữ thảo tùy giọng câu, và vì sao báo hiếu không phải từ đồng nghĩa, được nói rõ ở đồng nghĩa, trái nghĩa với hiếu thảo.
Viết về lòng hiếu thảo: ý nào đáng giữ
Đề “Suy nghĩ về lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ” khá quen ở THCS. Thay vì liệt kê thật nhiều, nên chọn ba ý và làm cho kĩ:
- Hiếu thảo bắt đầu từ việc nhỏ, đúng lúc. Học sinh chưa thể phụng dưỡng cha mẹ, nhưng có thể nói năng lễ phép, tự giác học, đỡ mẹ việc nhà, hỏi han khi bố mệt.
- Hiếu thảo cần đi cùng sự hiểu. Biết cha mẹ thích gì, lo gì, đang mệt ra sao. Có những đứa con cho cha mẹ rất nhiều tiền mà một tháng không gọi điện hỏi thăm.
- Hiếu thảo không phải vâng lời mù quáng. Khi cha mẹ hiểu sai, người con vẫn có thể thưa lại nhẹ nhàng; giữ lễ mà vẫn giữ điều đúng.
Một dẫn chứng gần gũi hơn mọi truyện cổ: cậu học trò ở trọ trên phố, tối thứ Sáu nào cũng gọi về nhà, chỉ để hỏi mẹ “hôm nay cái lưng đỡ chưa”. Một câu hỏi lặp đi lặp lại như thế đôi khi nói về chữ hiếu rõ hơn một bài diễn văn.
Chữ hiếu của người con thời nay
Lòng hiếu thảo là gì?
Là tình cảm kính yêu, biết ơn cha mẹ, ông bà đã thành nếp sống, thể hiện qua lời nói lễ phép và việc làm chăm sóc. Người có lòng hiếu thảo nhớ đến cha mẹ cả khi đã đi xa, đã có gia đình riêng.
Biểu hiện của hiếu thảo ở học sinh là gì?
Chăm học để cha mẹ yên lòng, phụ giúp việc nhà, chào hỏi lễ phép, không nói dối bố mẹ, biết hỏi han khi người thân ốm. Những việc nhỏ ấy làm đều đặn quan trọng hơn một món quà lớn vào dịp lễ.
Hiếu thảo tiếng Anh là gì?
Khái niệm thường được dịch là filial piety; tính từ “hiếu thảo” có thể dịch là filial hoặc diễn đạt devoted to one’s parents.
Hiếu thảo có phải là luôn vâng lời cha mẹ?
Không hẳn. Vâng lời là một biểu hiện, nhưng hiếu thảo sâu hơn là thương và lo cho cha mẹ. Khi không đồng ý, người con vẫn có thể trình bày lễ phép, miễn là không xúc phạm và không bỏ mặc cha mẹ.