Phi thương bất phú là thành ngữ Hán Việt (非商不富), nghĩa đen là “không buôn bán thì không giàu”. Người ta dùng câu này để nói rằng muốn có của ăn của để thì buôn bán mới là cách khá lên nhanh hơn cả, nhất là khi so với làm ruộng hay làm công ăn lương. Phi thương bất phú nghĩa là gì cũng phụ thuộc người nói: có lúc là lời khích lệ khởi nghiệp, có lúc là câu bào chữa cho thói ham lãi.
| Nghĩa ngắn | Không kinh doanh, buôn bán thì khó trở nên giàu có |
| Chữ Hán | 非 phi (không) · 商 thương (buôn bán) · 不 bất (không) · 富 phú (giàu) |
| Loại | Thành ngữ gốc Hán, bốn chữ, cấu trúc phủ định kép “phi… bất…” |
| Ý gần trong Sử ký | “Nông bất như công, công bất như thương” (làm ruộng không bằng làm thợ, làm thợ không bằng buôn) |

Ý phi thương bất phú trong Sử ký
Tìm trong sách cổ sẽ không thấy nguyên bốn chữ phi thương bất phú đứng thành câu sớm như người ta tưởng. Ý của nó thì có từ rất xưa. Tư Mã Thiên, ở thiên Hóa thực liệt truyện trong bộ Sử ký, viết về những người giàu lên nhờ buôn bán, và có câu:
夫用貧求富,農不如工,工不如商,刺繡文不如倚市門。
Phù dụng bần cầu phú, nông bất như công, công bất như thương, thích tú văn bất như ỷ thị môn.
Tạm dịch: từ nghèo mà muốn giàu thì làm ruộng không bằng làm thợ, làm thợ không bằng buôn bán; ngồi thêu thùa không bằng đứng tựa cửa chợ. Hình ảnh cuối rất đắt: cây kim thêu kiếm được ít ỏi, còn người đứng ở cổng chợ thì tiền ra vào mỗi ngày.
Người Trung Hoa đời sau gói ý ấy vào bốn chữ 無商不富 (vô thương bất phú). Sang tiếng Việt, câu quen tai là phi thương bất phú: chữ phi thay cho vô, nghĩa vẫn y nguyên.
Đọc từng chữ: phi, thương, bất, phú
Phi (非) là “không phải”, như trong phi pháp, phi lý. Thương (商) là buôn bán, cùng gốc với thương nhân, thương mại, thương hiệu; chữ này không liên quan tới chữ thương trong “thương nhớ” hay “bị thương”. Bất (不) là không. Phú (富) là giàu, như phú ông, trù phú, phú quý.
Ghép lại theo khuôn “phi A bất B”: không có A thì không thành B. Khuôn này phủ định hai lần để khẳng định mạnh một điều kiện. Câu không nói buôn bán chắc chắn sẽ giàu; nó nói muốn giàu thì gần như không tránh được chuyện buôn bán. Người học cách nhận ra một từ gốc Hán sẽ thấy kiểu cấu trúc này gặp nhiều trong thành ngữ bốn chữ.
Ví dụ dùng trong đời thường: Ông bà nội cả đời làm ruộng, đến đời cha mở tiệm tạp hóa thì nhà mới khá lên; đúng là phi thương bất phú.
Câu nói đi ngược thứ bậc sĩ, nông, công, thương
Điều thú vị là câu này ra đời trong một xã hội trọng nông, khinh thương. Theo quan niệm Nho giáo, dân chia bốn hạng sĩ, nông, công, thương; người buôn đứng cuối, bị coi là kẻ chạy theo lợi. Ngay trong Hóa thực liệt truyện, Tư Mã Thiên vẫn xếp hạng cách làm giàu: giàu từ nghề gốc (làm ruộng) là bậc trên, giàu từ nghề ngọn (buôn bán) thứ hai, giàu nhờ gian dối là thấp nhất. Ông thừa nhận buôn bán nhanh giàu, nhưng không khen mọi cách kiếm tiền.
Vì vậy khi viết bài nghị luận về câu này, có thể đi theo ba ý:
- Phần đúng: trao đổi hàng hóa làm của cải lưu thông; người biết nắm nhu cầu, biết tính toán thì dễ khá lên hơn người chỉ làm đều đều một việc.
- Phần cần hiểu cho đủ: “thương” thời nay rộng hơn đứng quầy bán hàng; người nông dân bán nông sản qua mạng, người thợ mở xưởng nhận đơn cũng đang “thương”.
- Giới hạn: câu nói không biện hộ cho buôn gian bán lận. Chính Tư Mã Thiên đã đặt “giàu nhờ gian dối” xuống bậc chót.
Câu cùng nghĩa, câu nghịch nghĩa và vế hay bị lẫn
| Câu | Quan hệ với phi thương bất phú |
|---|---|
| Buôn có bạn, bán có phường | Cùng đề cao chuyện buôn bán, nhưng nhấn vào việc làm ăn phải có người cùng nghề |
| Buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện | Gần như ngược lại: giữ của bằng tiết kiệm quan trọng hơn kiếm lớn |
| Dĩ nông vi bản (lấy nghề nông làm gốc) | Quan niệm trọng nông mà câu phi thương bất phú đi ngược |
| Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng | Câu bốn vế lưu truyền; ở đây chữ “phú” lại đi với “công”, còn “thương” đi với “hoạt” (sống động) |
Câu bốn vế ở dòng cuối được vài bài báo gán cho Lê Quý Đôn, song các bài ấy không chỉ ra câu nằm ở tác phẩm nào, nên khi trích chỉ nên ghi là câu lưu truyền. Hai vế “phi công bất phú” và “phi thương bất phú” rất dễ đọc lẫn nhau; đọc kỹ chữ đứng giữa là phân biệt được. Ai thích những câu bốn chữ gốc Hán kiểu này có thể xem thêm câu dục tốc bất đạt trong Luận ngữ, cũng một lối “bất” mà ý rất khác.
Phi thương bất phú trong câu chuyện làm ăn
Phi thương bất phú nghĩa là gì?
Nghĩa là không buôn bán, kinh doanh thì khó giàu. Câu nhấn mạnh sức sinh lời của việc trao đổi hàng hóa so với làm ruộng hay làm thợ, vốn chỉ thu được phần công của mình.
Phi thương bất phú chữ Hán viết thế nào?
Viết là 非商不富. Người Trung Quốc quen nói 無商不富 (vô thương bất phú), nghĩa tương tự.
Phi thương bất phú là câu của ai?
Không gắn với một tác giả cụ thể. Ý của câu gần với một đoạn trong Sử ký của Tư Mã Thiên (“nông bất như công, công bất như thương”), còn bốn chữ là cách nói gọn của đời sau.
Học sinh có nên dùng câu này trong bài văn?
Có thể, nhất là đề nghị luận về khởi nghiệp hay chọn nghề. Nên kèm ý rằng làm giàu phải chính đáng; một lời chúc như lời chúc mã đáo thành công cho người mới mở hàng cũng hay đi kèm tinh thần ấy.