Ôn tập cuối học kì 1 là Bài 10 trong sách Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều tập 1, trang 132–137, gồm 7 tiết. Bài giải dưới đây hướng dẫn từng tiết: đáp án bài tập từ loại, chủ ngữ, đọc hiểu, gợi ý kể chuyện và dàn ý bài văn miêu tả.

Tuần ôn tập cuối học kì 1 gồm những gì?
Sách in tên bài là “ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ I”. Từ tiết 1 đến tiết 5, phần A là thầy cô nghe từng bạn đọc hoặc đọc thuộc; phần B (và C) là bài tập:
- Tiết 1: bài thơ Đồng dao tặng mẹ tặng ba – danh từ, động từ, tính từ, nhân hoá.
- Tiết 2: trả bài viết đoạn văn về một câu chuyện em thích.
- Tiết 3: nghe kể Điều ước của vua Mi-đát (thần thoại Hy Lạp).
- Tiết 4: nghe – viết Những loài cây có chất độc, dấu gạch ngang.
- Tiết 5: chủ ngữ. Tiết 6: đọc hiểu Cây chuối mẹ. Tiết 7: viết bài văn tả vườn hoa hoặc vườn rau.
Tiết 1: Đồng dao tặng mẹ tặng ba (trang 132–133)
A. Mỗi học sinh đọc một đoạn văn, đoạn thơ khoảng 80 – 85 tiếng hoặc đọc thuộc lòng một đoạn thơ (bài thơ) đã học. Em ôn các bài đọc từ Bài 6 đến Bài 9 (bài có liên kết đã có lời giải):
| Bài | Bài đọc đã học |
| Bài 6. Ước mơ của em | Ở Vương quốc Tương Lai: Công xưởng xanh, Ở Vương quốc Tương Lai: Khu vườn kì diệu, Nếu chúng mình có phép lạ, Theo đuổi ước mơ |
| Bài 7. Họ hàng, làng xóm | Người cô của bé Hương, Kỉ niệm xưa, Mảnh sân chung, Anh đom đóm |
| Bài 8. Người ta là hoa đất | Ông Yết Kiêu, Nhà bác học của đồng ruộng, Ba nàng công chúa, Tôn vinh sáng tạo |
| Bài 9. Tài sản vô giá | Đón Thần Mặt Trời, Để học tập tốt, Chọn đường, Buổi sáng đi học |
B. Đọc và làm bài tập: bài thơ Đồng dao tặng mẹ tặng ba (trích, Nguyễn Trọng Tạo) viết theo thể thơ 4 chữ, lời một bạn nhỏ ở nhà một mình khi ba mẹ đi làm: bạn tự học bài, làm toán, chơi cùng mèo, búp bê, đợi ba mẹ về.
Câu 1 (trang 133): Xếp các từ dưới đây vào nhóm thích hợp:
Các quả trên cây: đen, ngủ, thức, gió, trắng, khó, cười, ngày, tóc, vắng vẻ, buồn, thuộc. Ba cái giỏ: Động từ – Danh từ – Tính từ.
Trả lời:
| Động từ | Danh từ | Tính từ |
| ngủ, thức, cười, thuộc | gió, ngày, tóc | đen, trắng, khó, vắng vẻ, buồn |
Cách nhận biết: động từ chỉ hoạt động, trạng thái (ngủ, thức, cười, thuộc bài); danh từ chỉ sự vật, hiện tượng, thời gian (gió, tóc, ngày); tính từ chỉ màu sắc, tính chất, cảm xúc (đen, trắng, khó, vắng vẻ, buồn).
Câu 2 (trang 133): Những vật nào trong bài thơ được nhân hoá? Chúng được nhân hoá bằng cách nào?
Trả lời:
- Mặt Trời: được gọi bằng từ dùng để gọi người (ông) và có hoạt động như người (ghé vào cửa sổ).
- Gió: được gọi là chị, có bàn tay và biết vuốt tóc bạn nhỏ.
- Búp bê: biết nhoẻn miệng cười như người.
- Ngoài ra, bạn nhỏ còn trò chuyện với bài toán (khó à khó ơi) như nói với một người bạn.
Như vậy, các vật được nhân hoá bằng cách gọi chúng như gọi người (ông, chị) và tả chúng có tay, biết cười, biết ghé thăm như người; có chỗ còn nói với sự vật như nói với người.
Câu 3 (trang 133): Viết một đoạn văn ngắn (3 – 4 câu) nêu cảm nghĩ của em về bạn nhỏ trong bài thơ.
Trả lời: Đoạn văn tham khảo: Em rất quý bạn nhỏ trong bài thơ. Ba mẹ đi làm vắng, bạn vẫn tự giác học thuộc bài, làm xong bài toán khó mà không cần ai nhắc. Bạn còn biết an ủi ba mẹ đừng lo, vì ở nhà đã có mèo, có búp bê, có nắng, có gió làm bạn. Em muốn được ngoan và hiểu chuyện như bạn ấy.
Tiết 2: Trả bài viết đoạn văn về một câu chuyện em thích (trang 133–134)
A. Đánh giá đọc thành tiếng, học thuộc lòng. B. Trả bài viết gồm 4 việc: (1) nghe thầy cô nhận xét chung; (2) tham gia sửa bài cùng cả lớp; (3) tự sửa đoạn văn của mình; (4) đổi bài cho bạn để kiểm tra việc sửa lỗi.
Hướng dẫn tự sửa bài
Em đọc lại bài, đánh dấu và sửa theo hai nhóm lỗi sách nêu:
- Lỗi về cấu tạo: thiếu câu chủ đề; câu chủ đề chưa nêu tên câu chuyện; có câu lạc đề; các câu sắp xếp lộn xộn. Cách sửa: viết câu mở đầu nêu rõ tên truyện em thích, sắp lại các câu theo thứ tự giới thiệu – lí do thích – cảm nghĩ.
- Lỗi về nội dung: chỉ kể lại truyện mà không nói vì sao thích; nhầm chi tiết; hiểu sai ý nghĩa truyện. Cách sửa: thêm 1 – 2 câu nêu lí do (nhân vật, chi tiết em nhớ, bài học); đối chiếu lại truyện để sửa chi tiết sai.
- Ngoài ra soát lỗi dùng từ, đặt câu, chính tả, viết hoa tên riêng và tên truyện.
Tiết 3: Nghe kể Điều ước của vua Mi-đát (trang 134–135)
A. Đánh giá đọc thành tiếng, học thuộc lòng. B. Luyện tập nghe và nói.
Câu 1 (trang 134): Nghe và kể lại câu chuyện sau: Điều ước của vua Mi-đát
Thần thoại Hy Lạp, SGK chỉ in tranh nhà vua cầm chiếc cốc vàng bên bàn đầy đồ ăn hoá vàng. Gợi ý: a) Vua Mi-đát ước muốn điều gì? b) Ban đầu, điều ước ấy mang lại cho nhà vua niềm vui như thế nào? c) Vì sao về sau nhà vua lại cầu xin Thần Đi-ô-ni-dốt lấy lại điều ước? d) Cuối cùng, nhà vua đã hiểu ra điều gì?
Trả lời: Bài kể tham khảo:
Ngày xưa, vua Mi-đát là người rất ham vàng. Một lần, vua được Thần Đi-ô-ni-dốt cho một điều ước. Vua xin cho mọi vật mình chạm tay vào đều hoá thành vàng. Thần đồng ý. Vua thử bẻ một cành cây, cành cây biến thành vàng; nhặt hòn đá, hòn đá cũng thành vàng. Vua sung sướng, nghĩ mình sẽ là người giàu nhất thế gian. Nhưng đến bữa ăn, bánh mì, thức ăn vua cầm lên đều hoá vàng, nước uống cũng vậy, vua không sao ăn uống được. Đói khát, vua hoảng sợ, vội cầu xin thần lấy lại điều ước. Thần bảo vua ra sông tắm, điều ước sẽ mất. Vua làm theo và trở lại như cũ. Từ đó, vua hiểu rằng hạnh phúc không nằm ở vàng bạc, còn lòng tham chỉ đem lại khổ sở.
Câu 2 (trang 135): Trao đổi về câu chuyện
a) Câu chuyện “Điều ước của vua Mi-đát” nói với em điều gì? b) Theo em, muốn có cuộc sống sung sướng, cần làm gì?
Trả lời:
- a) Câu chuyện khuyên em không nên tham lam. Vàng bạc nhiều đến đâu cũng không quý bằng những thứ bình thường như cơm ăn, nước uống, người thân.
- b) Muốn sống sung sướng, cần chăm chỉ làm việc, học tập, biết quý những gì mình đang có và biết chia sẻ với mọi người.
Tiết 4: Nghe – viết Những loài cây có chất độc (trang 135)
A. Đánh giá đọc thành tiếng, học thuộc lòng. B. Nghe – viết: đoạn văn Những loài cây có chất độc (theo Nguyễn Thị Vi Khanh) nhắc ba loại cây cần cẩn thận khi tiếp xúc: trúc đào, hoa thuỷ tiên, dạ lan hương; mỗi loại viết trên một dòng bắt đầu bằng dấu gạch ngang. Khi viết, em chú ý viết đúng tên cây, dấu hai chấm sau tên cây, các từ chất độc, nguy hiểm, buồn nôn, tiêu chảy.
C. Trả lời câu hỏi: Dấu gạch ngang trong đoạn văn trên được dùng để làm gì?
Các dấu gạch ngang báo hiệu từng ý được liệt kê: mỗi dấu mở đầu thông tin về một loài cây có chất độc.
Tiết 5: Luyện từ và câu – chủ ngữ (trang 135)
A. Đánh giá đọc thành tiếng, học thuộc lòng. B. Luyện từ và câu.
Câu 1 (trang 135): Xác định chủ ngữ của các câu dưới đây:
a) Người phụ nữ ấy là bà Nguyễn Thị Duệ. (Theo Nguyễn Phương Bảo An – Nguyễn Hoàng Trang)
b) Thuận quét luôn nửa sân bên kia. Cả mảnh sân sạch bong. (Theo Hoàng Anh Đường)
Trả lời:
- a) Chủ ngữ: Người phụ nữ ấy (trả lời câu hỏi Ai?).
- b) Câu 1: chủ ngữ là Thuận (Ai quét luôn nửa sân?). Câu 2: chủ ngữ là Cả mảnh sân (Cái gì sạch bong?).
Câu 2 (trang 135): Viết một đoạn văn ngắn (4 – 5 câu) tả một bông hoa (hoặc một cây rau). Gạch dưới chủ ngữ ở mỗi câu trong đoạn văn đó.
Trả lời: Đoạn văn tham khảo (chủ ngữ được gạch dưới):
Bông hồng nhung trong chậu nhà em vừa nở sáng nay. Những cánh hoa đỏ thắm, mịn như nhung, xếp lớp ôm lấy nhuỵ vàng. Mấy giọt sương còn đọng trên cánh, long lanh dưới nắng. Hương hoa thơm dịu, lan khắp góc ban công. Em nâng niu ngắm mãi không chán.
Tiết 6: Luyện tập đọc hiểu – Cây chuối mẹ (trang 136–137)
Bài của Phạm Đình Ân tả cây chuối từ lúc còn là cây con đến khi thành cây chuối mẹ, trổ hoa, che chở đàn con. Từ ngữ: đĩnh đạc (đàng hoàng, tự tin), hơn hớn (tươi tắn, tràn đầy sức sống), chúc (nghiêng hẳn một đầu xuống).
Câu 1 (trang 136–137): Tác giả tả cây chuối mẹ theo trình tự nào? Tìm ý đúng:
a) Tả từng bộ phận của cây chuối mẹ trong một thời điểm. b) Tả sự phát triển của cây chuối mẹ theo thời gian. c) Tả sự phát triển của những cây chuối con theo thời gian. d) Tả cây chuối mẹ nghiêng sang một phía để buồng chuối không đè giập chuối con.
Trả lời: Chọn b. Câu mở đầu và câu thứ hai của bài cho thấy tác giả tả một cây – cây chuối mẹ (từ nó) – qua các thời điểm khác nhau: “Mới ngày nào nó chỉ là cây chuối con” … “Hôm nay, nó đã là cây chuối to, đĩnh đạc”. Sau đó bài tả tiếp cây ấy trổ hoa, hoa to dần, rồi đưa hoa sang chỗ trống để làm buồng. Các cây chuối con chỉ được nhắc thêm, không phải đối tượng được tả theo thời gian, nên ý c chưa đúng (một số sách giải chọn c).
Câu 2 (trang 137): Những đặc điểm nào cho thấy cây chuối đã trở thành một cây chuối mẹ? Tìm các ý đúng:
a) Thân cây to bằng cột nhà, tàu lá như những cái quạt lớn. b) Xung quanh cây chuối ấy mọc lên dăm cây chuối bé. c) Chuối đã ra hoa, hoa ngày càng to. d) Chuối đã làm buồng, ra nải.
Trả lời: Các ý đúng: a, b, c. Cây đã lớn hẳn (a), đã có những cây con quanh gốc (b) và đã trổ hoa, hoa to dần (c). Ý d chưa đúng: trong bài, cây mới chuẩn bị để làm buồng, ra nải.
Câu 3 (trang 137): Tìm và viết lại các hình ảnh so sánh trong bài đọc.
Trả lời:
| Sự vật được so sánh | Từ so sánh | Sự vật dùng để so sánh |
| tàu lá nhỏ (dài) | như | lưỡi mác |
| thân (to) | bằng | cột nhà |
| các tàu lá (ngả ra mọi phía) | như | những cái quạt lớn |
| cái hoa (hoe hoe đỏ) | như | một mầm lửa non |
Câu 4 (trang 137): Tác giả bài đọc đã nhân hoá cây chuối mẹ bằng cách nào?
Trả lời: Tác giả gọi cây chuối là mẹ, gọi các cây nhỏ là đứa con, và tả cây bằng những từ ngữ vốn dùng cho người: đĩnh đạc, có cổ mập tròn, bận đơm hoa kết quả, sợ đè giập đứa con, khẽ khàng ngả hoa sang chỗ trống.
Câu 5 (trang 137): Biện pháp nhân hoá trong bài đọc có tác dụng gì?
Trả lời: Nhờ nhân hoá, cây chuối hiện lên sinh động, gần gũi như một người mẹ hiền biết yêu thương, che chở con. Người đọc thêm yêu cây cối và cảm nhận được tình mẹ con thật ấm áp.
Tiết 7: Bài luyện tập viết (trang 137)
Chọn 1 trong 2 đề, kèm ảnh vườn hoa tu-líp nhiều màu và luống bắp cải.
Câu 1 (trang 137): Viết bài văn tả một vườn hoa (hoặc một luống hoa).
Trả lời: Dàn ý: Mở bài – giới thiệu vườn hoa (ở đâu, của ai). Thân bài – tả bao quát (rộng, nhiều màu), tả từng loài hoa nổi bật, cảnh ong bướm, hương thơm, người chăm sóc. Kết bài – cảm nghĩ.
Bài văn tham khảo: Trước cửa nhà văn hoá phường em có một vườn hoa nhỏ rất đẹp. Vườn hình chữ nhật, được rào bằng hàng chè tàu cắt tỉa gọn gàng. Bước vào vườn, em thấy ngay luống hoa hồng đủ màu: đỏ thắm, hồng phấn, vàng tươi. Bên cạnh là khóm cúc vàng nở rộ, cánh hoa nhỏ xíu xếp tròn như những chiếc cúc áo. Góc vườn có mấy cây hoa giấy leo lên giàn, tím rực một khoảng trời. Buổi sáng, ong bướm bay rập rờn, hương hoa thoang thoảng theo gió. Chiều chiều, bác bảo vệ lại tưới nước, nhặt lá úa cho vườn hoa. Mỗi lần đi qua, em đều dừng lại ngắm và thấy lòng vui hẳn lên. Em tự nhủ sẽ không bao giờ ngắt hoa để vườn luôn đẹp như thế.
Câu 2 (trang 137): Viết bài văn tả một vườn rau (hoặc một luống rau).
Trả lời: Dàn ý tương tự: giới thiệu vườn rau – tả bao quát – tả từng luống (rau cải, xà lách, bắp cải…: màu lá, hình dáng) – công việc chăm sóc – cảm nghĩ. Đoạn mở đầu tham khảo: Sau nhà bà ngoại em có một vườn rau xanh mướt. Vườn chia thành năm luống thẳng tắp, luống nào cũng tươi tốt. Đẹp nhất là luống bắp cải, những búp cải tròn xoe cuộn chặt, lá ngoài xoè rộng xanh mát như những bông hoa khổng lồ…