Hàm súc là lối diễn đạt cô đọng mà chứa bên trong nhiều ý sâu, nhiều điều chưa nói hết, để người đọc phải ngẫm mới thấy. Đây là tính từ Hán Việt, hay đi với câu thơ hàm súc, ngôn ngữ hàm súc, lời văn hàm súc. Trong giờ Ngữ văn, tính hàm súc là một phẩm chất được nhắc nhiều nhất khi bình thơ.
| Nghĩa ngắn | Lời ít, ý nhiều; ý sâu nằm ẩn sau câu chữ |
| Gốc từ | Hán Việt 含蓄: hàm (ngậm, chứa) + súc (dành chứa, tích trữ) |
| Loại từ | Tính từ; “tính hàm súc”, “sự hàm súc” là cách danh từ hóa |
| Đồng nghĩa gần | Súc tích, cô đọng; gần ý: đa nghĩa, giàu sức gợi |
| Trái nghĩa | Dài dòng, lộ liễu, nói hết không còn gì để nghĩ |

Hàm súc trong hai câu kết Thu điếu
Muốn hiểu hàm súc, đọc hai câu cuối bài thơ câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến là đủ:
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Bề mặt câu chữ chỉ kể một việc rất thường: ông câu ngồi lâu mà chẳng được con cá nào, rồi nghe tiếng cá đớp ở đâu đó dưới đám bèo. Không có một chữ “buồn”, chữ “cô đơn” hay chữ “thời thế” nào.
Vậy mà người đọc nhiều thế hệ vẫn thấy được nhiều hơn thế. Tiếng cá đớp khẽ làm cái ao thu càng thêm vắng. Dáng người tựa gối, cầm cần mà chẳng thiết được cá gợi một tâm thế ngồi đó để nghĩ ngợi hơn là để câu. Có người đọc ra nỗi buồn của nhà nho trước thời cuộc, có người chỉ thấy thú nhàn; cả hai cách đọc đều bắt đầu từ mười bốn chữ ấy. Đó chính là hàm súc: chữ ít, nhưng chỗ trống để nghĩ thì rộng. Câu hỏi và gợi ý đọc hiểu đầy đủ có trong bài soạn Thu điếu của Nguyễn Khuyến.
Thế nào thì một câu văn được gọi là hàm súc?
Theo từ điển, hàm súc là phẩm chất của cách diễn đạt: gọn, đặc, mà bên trong ẩn nhiều ý sâu; ví dụ đi kèm là câu thơ rất hàm súc, văn viết hàm súc. Định nghĩa ấy có hai vế, và thiếu vế nào cũng không thành:
- Cô đọng: không thừa chữ, không giải thích dông dài.
- Có ý ở bên trong: điều quan trọng nhất không nằm hết trên mặt chữ, người đọc phải tự tìm.
Vế thứ hai là chỗ phân biệt hàm súc với một câu đơn giản là ngắn. “Mai em đi học” ngắn, nhưng chẳng gợi gì thêm. Người xưa có cách nói ý tại ngôn ngoại, ý ở ngoài lời; câu thơ hàm súc là câu để phần lớn ý nằm ở chỗ ấy.
Khi học về ngôn từ văn học, sách Ngữ văn thường đặt tính hàm súc cạnh tính hình tượng và tính đa nghĩa. Ba phẩm chất này hay đi cùng nhau: hình ảnh càng gợi thì càng chứa được nhiều lớp nghĩa. Bài thơ của Hồ Xuân Hương về chiếc bánh trôi là ví dụ quen thuộc, đọc thêm ở tính đa nghĩa của Bánh trôi nước.
Nhiều người gõ nhầm thành “hàm xúc” vì lẫn s với x; cách viết đúng có ở bài phân biệt hàm súc với hàm xúc.
含蓄: ngậm trong miệng, cất trong kho
Chữ hàm (含) có nghĩa gốc là ngậm, như ngậm một vật trong miệng mà không nhả ra; âm Nôm của chữ này cũng đọc là “ngậm”. Họ từ của nó đều có ý chứa ở bên trong: bao hàm, hàm lượng, hàm ý, hàm ơn.
Chữ súc (蓄) là dành chứa, cất giữ, cùng gốc với súc tích. Từ điển chữ Hán còn ghi thêm nghĩa hàm chứa, giấu kín bên trong. Ghép lại, hàm súc là vừa ngậm vừa cất: lời nói như ngậm điều gì đó chưa nhả hết, ý thì được cất kĩ để người đọc tự mở ra.
Trong tiếng Trung, từ cùng chữ là hánxù. Ngoài nghĩa lời lẽ kín đáo, ngầm ý, bên đó còn dùng để tả một người điềm đạm, ít bộc lộ. Tiếng Việt chủ yếu giữ nghĩa thứ nhất, nói về lời và chữ.
Hàm súc đứng cạnh súc tích, hàm ý và dài dòng
| Từ | Nói về điều gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Hàm súc | Chiều sâu: ý ẩn, gợi nhiều hơn điều nói ra | Hai câu thơ hàm súc, đọc lại vẫn thấy thêm ý |
| Súc tích | Lượng ý trong một độ dài ngắn; đủ, không thừa | Bản tóm tắt súc tích trong nửa trang |
| Hàm ý | Danh từ: chính cái ý ngầm được gửi gắm | Câu nói có hàm ý trách móc |
| Đa nghĩa | Một câu chữ cho phép nhiều cách hiểu | Hình ảnh chiếc bánh trôi đa nghĩa |
| Dài dòng, lộ liễu | Nói thừa hoặc nói toạc hết (trái nghĩa) | Kết bài giải thích lại toàn bộ ý đã viết |
Hàm súc và súc tích được từ điển xếp là đồng nghĩa, nhưng khi dùng thì mỗi từ nghiêng một phía. Súc tích hợp với bản tin, bài tóm tắt, câu trả lời đọc hiểu; xem từ súc tích, ít lời mà nhiều ý. Hàm súc hợp với thơ, với câu văn có dư âm. Một bản hướng dẫn sử dụng máy giặt có thể rất súc tích, nhưng chẳng ai khen nó hàm súc.
Tính hàm súc, ngôn ngữ hàm súc và cách viết
Tính hàm súc là gì?
Là phẩm chất của lời văn, câu thơ khi dùng ít chữ mà gợi nhiều ý, nhiều tầng nghĩa. Nói một bài thơ có tính hàm súc tức là đọc xong vẫn còn điều để nghĩ, không bị nói hết.
Ngôn ngữ hàm súc là ngôn ngữ như thế nào?
Là ngôn ngữ chọn lọc, không thừa chữ, giàu hình ảnh và để ý sâu nằm sau câu chữ. Thơ Đường luật, tục ngữ, những câu kết bài truyện ngắn bỏ lửng thường được nêu làm ví dụ.
Làm sao để bài văn của mình hàm súc hơn?
Thay câu giải thích cảm xúc bằng một chi tiết cụ thể; bỏ những câu nhắc lại điều người đọc đã hiểu. Ví dụ, thay vì viết “em rất buồn khi chia tay”, có thể viết “em đứng ở cổng trường đến khi chiếc xe khuất hẳn”.
Hàm súc tiếng Anh là gì?
Thường dịch là implicit, suggestive hoặc pithy tùy câu. “Câu thơ hàm súc” có thể dịch a line rich in implication.