Tiêu đề là dòng tên đặt ở đầu một văn bản hoặc một phần của văn bản, nêu nội dung chính để người đọc chú ý và nắm được văn bản nói về gì. Ta gặp tiêu đề ở bài báo, cuốn sách, lá đơn, email, slide thuyết trình và cả ở từng mục nhỏ trong một bài dài. Hỏi “tiêu đề nghĩa là gì” hay “tiêu đề của văn bản là gì” thì đều xoay quanh ý này.
| Khái niệm | Dòng tên ở đầu văn bản hoặc đầu một phần văn bản, nêu nội dung chủ yếu |
| Nghĩa thứ hai | Phần tên, địa chỉ cơ quan in sẵn ở đầu giấy tờ giao dịch |
| Thuộc | Danh từ Hán Việt: 標 (tiêu: cái nêu, cái mốc) + 題 (đề: phần nêu lên ở đầu bài) |
| Dấu hiệu nhận biết | Đứng ở đầu, ngắn, tách dòng, thường in đậm, in hoa hoặc cỡ chữ lớn hơn |
| Tiếng Anh | title (tên bài), headline (tít báo), heading (tiêu đề mục), subject (tiêu đề email) |

Tiêu đề theo từ điển và theo chữ Hán
Từ điển tiếng Việt (bản trên Soha Tra Từ) ghi tiêu đề là danh từ, có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là lời đề ở đầu một tác phẩm, nêu nội dung chủ yếu để gợi sự chú ý, ví dụ tiêu đề của cuốn sách. Nghĩa thứ hai hẹp hơn: phần tên và địa chỉ in sẵn ở trên cùng các giấy tờ giao dịch của một cơ quan, tổ chức. Wiktionary tiếng Việt ghi tương tự: đề mục nêu lên để người ta chú ý, lời đề trên cuốn sách hoặc bài viết.
Chiết tự giúp nhớ nghĩa. Chữ tiêu (標) vốn là cái nêu, cái mốc dựng lên cho người ta dễ thấy, như trong mục tiêu, tiêu chí. Chữ đề (題) là phần nêu lên ở đầu một bài văn, bài thơ, như trong đề mục, đầu đề. Thiều Chửu giảng chữ tiêu đề là viết chữ lên cái nêu để làm dấu cho dễ nhớ, dễ nhận. Vậy tiêu đề là cái “biển chỉ đường” đặt ở đầu văn bản.
Một dòng chữ thế nào thì được gọi là tiêu đề?
Đứng trước một trang văn bản, có thể nhận ra tiêu đề nhờ bốn đặc điểm:
- Vị trí: đứng đầu toàn văn bản, hoặc đầu một phần, một mục.
- Hình thức: tách thành dòng riêng; thường in đậm, in hoa hoặc cỡ chữ lớn hơn phần thân.
- Độ dài: ngắn, thường là một cụm từ hoặc một câu ngắn, ít khi có dấu chấm cuối dòng.
- Chức năng: nói gọn nội dung bên dưới. Đọc tiêu đề, người ta đoán được mình sắp đọc gì.
Thiếu chức năng thứ tư thì dù in to cũng chưa phải tiêu đề tốt. Một dòng “Bài viết số 3” đứng đầu trang có vị trí của tiêu đề nhưng không cho người đọc biết gì. Ngược lại, tiêu đề cũng không được hứa nhiều hơn những gì phần dưới có; tiêu đề giật gân, nói quá sự thật là kiểu mồi câu nhấp chuột của báo mạng mà người đọc ngày càng ghét.
Tiêu đề bài, tiêu đề mục và những chỗ hay gặp khác
| Kiểu tiêu đề | Nằm ở đâu | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tiêu đề cả văn bản | Đầu bài báo, bài viết, báo cáo | Học sinh tình nguyện dọn rác bãi biển cuối tuần |
| Tiêu đề mục (đề mục) | Đầu từng phần trong văn bản dài | 1. Nguyên nhân; 2. Giải pháp |
| Tiêu đề văn bản hành chính | Dòng tên văn bản in hoa, căn giữa | ĐƠN XIN NGHỈ HỌC, BIÊN BẢN HỌP LỚP |
| Tiêu đề email | Ô “Tiêu đề” hoặc “Chủ đề” khi soạn thư | Lớp 8A nộp danh sách dự thi hùng biện |
| Tiêu đề trong Word, Excel, slide | Kiểu Heading của Word, hàng đầu bảng tính, dòng trên cùng mỗi slide | Hàng tiêu đề: Họ tên, Ngày sinh, Điểm |
Trong báo chí, tiêu đề bài báo còn được gọi là tít; đi ngay sau tít là đoạn dẫn in đậm, được giải thích kĩ ở bài sapo trong một bài báo nằm ở đâu. Trong văn học, tên của tác phẩm thường được gọi là nhan đề hơn là tiêu đề.
Tiêu đề trong văn bản thông tin ở sách Ngữ văn
Từ lớp 6, sách Ngữ văn dạy học sinh đọc văn bản thông tin bằng cách nhìn nhan đề, sa-pô và các đề mục trước. Đề mục chính là tiêu đề của từng phần.
Trái Đất – cái nôi của sự sống (Ngữ văn 6, Kết nối tri thức)
Sau nhan đề và phần sa-pô in đậm, văn bản được chia bằng các đề mục: Trái Đất trong hệ Mặt Trời, “Vị thần hộ mệnh” của sự sống trên Trái Đất, Trái Đất – nơi cư ngụ của muôn loài, Con người trên Trái Đất. Chỉ đọc lướt các tiêu đề mục này, người đọc đã thấy được trình tự: từ vị trí của Trái Đất, đến nước, đến muôn loài, rồi đến con người. Tác dụng của chúng là chia văn bản thành từng khối rõ ràng, giúp tìm thông tin nhanh. Phần đọc hiểu trong bài bài soạn Trái Đất cái nôi của sự sống có câu hỏi riêng về những đề mục này.
Một tiêu đề mục có hình ảnh
Đề mục “Vị thần hộ mệnh” của sự sống trên Trái Đất không gọi thẳng tên “nước”. Tác giả dùng cách nói hình ảnh, đặt trong ngoặc kép, khiến người đọc tò mò và cũng nhấn mạnh vai trò che chở sự sống của nước. Ví dụ này cho thấy tiêu đề mục trong văn bản thông tin không nhất thiết khô khan; nó có thể vừa rõ vừa gợi.
Khi nào tiêu đề trùng với nhan đề?
Với một bài văn, bài thơ, người ta thường nói nhan đề của tác phẩm; với bản tin, văn bản hành chính, email lại quen nói tiêu đề. Ở cấp toàn văn bản, hai từ chỉ cùng một dòng chữ; khác nhau chủ yếu ở phạm vi dùng. Tiêu đề rộng hơn vì còn dùng cho từng mục nhỏ, điều mà chữ nhan đề ít khi được dùng.
Tiêu đề, nhan đề, sa-pô và chủ đề đặt cạnh nhau
| Từ | Là gì | Câu hỏi để nhận ra |
|---|---|---|
| Tiêu đề | Dòng tên ở đầu văn bản hoặc đầu một mục | Dòng chữ nào đứng đầu, nói gọn phần bên dưới? |
| Nhan đề | Tên của tác phẩm, cuốn sách, bài viết | Tác phẩm này tên là gì? |
| Sa-pô | Đoạn ngắn ngay sau tiêu đề, tóm ý chính | Đoạn nào tóm tắt cả bài trong vài dòng? |
| Chủ đề | Vấn đề chính mà văn bản bàn tới | Văn bản muốn nói về vấn đề gì? |
Lỗi hay gặp là lẫn tiêu đề với chủ đề. Tiêu đề là chữ có thật trên trang giấy; còn chủ đề của một văn bản là thứ người đọc phải tự khái quát, nhiều khi không được viết ra ở đâu cả.
Thực hành: bốn câu hỏi về tiêu đề
Câu 1: Trong văn bản thông tin, phần nào là tiêu đề của cả bài, phần nào là tiêu đề mục?
Đáp án: Tiêu đề của cả bài là nhan đề đặt trên cùng (ví dụ “Trái Đất – cái nôi của sự sống”). Tiêu đề mục là các đề mục in đậm chia thân bài thành từng phần (ví dụ “Con người trên Trái Đất”). Tiêu đề cả bài bao quát toàn văn bản, tiêu đề mục chỉ bao quát phần ngay bên dưới.
Câu 2: Tiêu đề “Tin mới” đặt cho một bản tin về hội thao của trường có ổn không? Vì sao?
Đáp án: Chưa ổn. Tiêu đề này đúng vị trí nhưng không cho biết nội dung, bản tin nào cũng có thể gọi là “Tin mới”. Nên sửa thành tiêu đề nêu được sự việc, ví dụ “Hội thao trường năm nay có 12 lớp tham gia kéo co”.
Câu 3: Đặt tiêu đề email gửi cô chủ nhiệm để nộp bài thuyết trình của nhóm 3.
Đáp án tham khảo: “Nhóm 3 lớp 7B nộp bài thuyết trình về ô nhiễm nhựa”. Tiêu đề email tốt cho biết ai gửi, gửi việc gì, để người nhận nhìn hộp thư là hiểu. Tránh để trống hoặc chỉ ghi “Bài” hay “Gửi cô”.
Câu 4: Câu “Tiêu đề của truyện Lão Hạc là tình cảnh người nông dân trước Cách mạng” dùng từ đúng chưa?
Đáp án: Chưa đúng. Tình cảnh người nông dân là nội dung, chủ đề của truyện. Tên truyện “Lão Hạc” mới là nhan đề (tiêu đề). Có thể sửa: “Truyện Lão Hạc phản ánh tình cảnh người nông dân trước Cách mạng”.
Những điều học sinh hay thắc mắc về tiêu đề
Tiêu đề của văn bản là gì?
Là dòng tên đứng đầu văn bản, nói gọn nội dung chính. Với văn bản hành chính như đơn, biên bản, tiêu đề thường là tên loại văn bản in hoa, căn giữa, kèm nội dung tóm tắt nếu cần.
Tiêu đề và nhan đề có phải là một?
Ở cấp toàn văn bản, hai từ gần như đồng nghĩa. Nhan đề hay dùng cho tác phẩm văn học, sách; tiêu đề dùng rộng hơn, cho bài báo, email, văn bản hành chính và cả từng mục nhỏ.
Tiêu đề tiếng Anh là gì?
Thường là title. Tít báo là headline, tiêu đề mục trong văn bản là heading, tiêu đề email là subject, còn phần tiêu đề in sẵn trên giấy tờ cơ quan là letterhead.
Một tiêu đề hay cần có gì?
Ngắn, đúng nội dung và đủ cụ thể để người đọc biết phần dưới nói gì. Nếu được, thêm một chi tiết gợi tò mò, nhưng không phóng đại quá những gì bài viết thực sự có.