Ngữ cảnh là toàn bộ hoàn cảnh bao quanh một lời nói hay một câu văn: ai nói với ai, nói ở đâu, lúc nào, nói về chuyện gì, và những câu đứng trước, đứng sau nó. Người nói dựa vào ngữ cảnh để chọn chữ; người nghe dựa vào ngữ cảnh để hiểu đúng ý. Trong tiếng Anh, ngữ cảnh là context.
| Khái niệm | Bối cảnh ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ nơi một lời nói được tạo ra và được hiểu |
| Gốc từ | Hán Việt 語境: ngữ (lời nói) + cảnh (cõi, vùng bao quanh) |
| Thuộc | Kiến thức tiếng Việt về giao tiếp và nghĩa của từ |
| Dấu hiệu nhận biết | Nhân vật giao tiếp, bối cảnh rộng và hẹp, chuyện được nói tới, văn cảnh |
| Học ở | Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo (tập hai, Bài 10); Ngữ văn 11 chương trình cũ (bài Ngữ cảnh) |

Ngữ cảnh, cái nền sau mỗi câu nói
Thử đọc riêng câu “Mấy giờ rồi?”. Nếu đó là bạn cùng bàn hỏi trong giờ kiểm tra, đó là câu hỏi giờ thật. Nếu đó là mẹ đứng ở cửa phòng lúc nửa đêm khi con còn ôm điện thoại, đó là lời nhắc đi ngủ, kèm chút trách. Chữ vẫn y nguyên, chỉ có cái nền phía sau thay đổi. Cái nền ấy là ngữ cảnh.
Trong từ điển, ngữ cảnh được giải thích theo nghĩa hẹp là những đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ, quy định nghĩa cụ thể của đơn vị đó trong chuỗi lời nói; từ đồng nghĩa là văn cảnh. Sách Ngữ văn hiểu rộng hơn: ngữ cảnh gồm cả những thứ nằm ngoài câu chữ, như người tham gia giao tiếp, thời gian, nơi chốn, đời sống xã hội lúc lời nói ra đời.
Ở chương trình hiện hành, học sinh gặp khái niệm này trong phần Thực hành tiếng Việt của Ngữ văn 7 bộ Chân trời sáng tạo, Bài 10 (tập hai), với yêu cầu xác định nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh. Một ví dụ là chữ non trong bài thơ Đợi mẹ của Vũ Quần Phương: đứng cạnh “vầng trăng”, non không còn là non nớt mà chỉ vầng trăng mới mọc. Bài soạn Đợi mẹ của Vũ Quần Phương có phần đọc hiểu đầy đủ.
Về mặt chữ, ngữ (語) là lời nói, như trong ngôn ngữ, thành ngữ; cảnh (境) là cõi, vùng bao quanh, như trong hoàn cảnh, cảnh ngộ. Ngữ cảnh, hiểu đúng theo chữ, là “cõi bao quanh lời nói”.
Bốn nhân tố làm nên ngữ cảnh
Muốn biết một câu nói đang đứng trong ngữ cảnh nào, có thể soát lần lượt bốn nhân tố. Lấy luôn câu “Mấy giờ rồi?” của người mẹ lúc nửa đêm làm ví dụ.
- Nhân vật giao tiếp. Người nói và người nghe, cùng quan hệ giữa họ: mẹ và con. Vị thế ấy quyết định giọng điệu; con không thể hỏi lại mẹ bằng đúng giọng mẹ vừa hỏi.
- Bối cảnh ngoài ngôn ngữ. Bối cảnh hẹp là thời gian, nơi chốn, tình huống cụ thể: nửa đêm, trong phòng ngủ, đứa con chưa chịu ngủ. Bối cảnh rộng là đời sống văn hóa, xã hội, lịch sử bao trùm: một gia đình Việt, nơi bố mẹ quen nhắc khéo thay vì ra lệnh thẳng.
- Hiện thực được nói tới. Chuyện mà lời nói hướng vào: ở đây là giờ giấc và thói thức khuya. Hiện thực này có thể là sự việc bên ngoài, cũng có thể là tâm trạng bên trong người nói.
- Văn cảnh. Những câu chữ đứng ngay trước và sau. Nếu mẹ nói tiếp “Mai còn đi học đấy!”, văn cảnh xóa sạch mọi nghi ngờ rằng mẹ cần biết giờ.
Ba nhân tố đầu nằm ngoài câu chữ, nhân tố thứ tư nằm ngay trong văn bản. Với một bài đọc hiểu, văn cảnh thường là phần dễ khai thác nhất, vì nó in sẵn trên đề.
Nhân tố là một chữ đồng nghĩa với yếu tố; khi nào dùng thành phần, nguyên tố hay bộ phận thì được tách ở đồng nghĩa với yếu tố.
Ngữ cảnh chọn nghĩa cho từ trong ba bài thơ
Đề đọc hiểu hay hỏi “căn cứ vào ngữ cảnh, giải thích nghĩa của từ…”. Ba ví dụ dưới đây cho thấy ngữ cảnh làm việc ở ba tầng khác nhau.
Chữ “cần” giữa ao thu
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Đứng một mình, cần có thể là rau cần, là cần cẩu, là “cần làm ngay”. Trong Thu điếu của Nguyễn Khuyến, cả bài có thuyền câu, có cá, có chân bèo, nhan đề lại là “mùa thu câu cá”. Văn cảnh ấy khóa chặt nghĩa: cần là cần câu. Một số bản chép câu thơ là “Tựa gối ôm cần”, nghĩa của chữ cần vẫn không đổi. Muốn đọc lại toàn bài, xem bố cục và nội dung bài Thu điếu.
Chiếc bánh trôi và người phụ nữ
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Nếu chỉ nhìn văn cảnh, đây là lời chiếc bánh trôi tả mình: trắng, tròn, luộc trong nồi thì lúc chìm lúc nổi. Đặt vào bối cảnh rộng, tức xã hội phong kiến nơi người phụ nữ không tự quyết được số phận, cùng cách mở đầu “Thân em…” quen thuộc của ca dao than thân, bài thơ có thêm tầng nghĩa thứ hai: lời tự bạch của người phụ nữ đẹp mà long đong. Ngữ cảnh văn hóa mở ra lớp nghĩa mà câu chữ không nói thẳng. Bài lời tự bạch của chiếc bánh trôi trong thơ Hồ Xuân Hương phân tích kỹ hai tầng nghĩa này.
Vầng trăng “non” của người con đợi mẹ
Trở lại chữ non trong Đợi mẹ. Bình thường, non đi với rau non, tay nghề non. Nhưng khi đứng cạnh “vầng trăng”, đặt trong cảnh đứa trẻ ngồi chờ mẹ đi làm về lúc trời đã tối, nó chỉ vầng trăng mới mọc. Đây là kiểu bài SGK lớp 7 luyện nhiều nhất: một từ quen, nhờ ngữ cảnh mà mang nghĩa mới.
Ngữ cảnh, văn cảnh, hoàn cảnh sáng tác: đừng gộp làm một
| Khái niệm | Phạm vi | Ví dụ |
|---|---|---|
| Ngữ cảnh | Rộng nhất: cả người nói, người nghe, thời gian, nơi chốn, xã hội và câu chữ xung quanh | Mọi yếu tố giúp hiểu câu “Mấy giờ rồi?” của người mẹ |
| Văn cảnh | Chỉ phần ngôn ngữ đứng trước và sau, nằm trong văn bản | Thuyền câu, cá, chân bèo quanh chữ “cần” |
| Hoàn cảnh sáng tác | Thời điểm, sự kiện, tâm thế của tác giả khi viết; là một phần của bối cảnh | Nguyễn Khuyến viết chùm thơ thu khi đã cáo quan về quê |
| Tình huống giao tiếp | Bối cảnh hẹp của một lần nói cụ thể | Nửa đêm, trong phòng, đứa con chưa ngủ |
Nhiều bạn trả lời câu hỏi về ngữ cảnh chỉ bằng hoàn cảnh sáng tác. Thế là mới nói được một phần. Câu trả lời đủ ý thường có cả văn cảnh (những từ ngữ đi kèm trong bài) lẫn bối cảnh (thời đại, xã hội).
Ngữ cảnh cũng là thứ giúp ta tách các từ đồng âm: “đường” trong “mua một cân đường” và “đường về quê” chỉ phân biệt được nhờ câu chữ bao quanh, như đã nói ở bài những từ đọc giống nhau mà nghĩa khác hẳn. Với từ nhiều nghĩa, ngữ cảnh cho biết từ đang dùng nghĩa gốc hay nghĩa chuyển.
Luyện tập: bốn câu về ngữ cảnh có đáp án
Câu 1: Câu “Trời mưa rồi!” có thể mang những ý gì trong các ngữ cảnh khác nhau?
Đáp án tham khảo: Mẹ nói với con đang chuẩn bị đi học: nhắc mang áo mưa. Hai đứa trẻ đang phơi thóc giúp bà: giục nhau chạy ra cất thóc. Người nông dân sau tháng nắng hạn: mừng rỡ. Một câu, ba ý, do nhân vật và tình huống khác nhau.
Câu 2: Căn cứ vào ngữ cảnh, giải thích nghĩa của từ “cần” trong câu thơ “Tựa gối buông cần lâu chẳng được”.
Đáp án: “Cần” là cần câu. Căn cứ là văn cảnh của bài thơ: nhan đề Thu điếu (mùa thu câu cá), các hình ảnh thuyền câu, cá đớp động, chân bèo. Những từ ngữ ấy loại bỏ các nghĩa khác của từ đồng âm “cần”.
Câu 3: Chỉ ra bốn nhân tố ngữ cảnh trong tình huống: cuối buổi chào cờ sáng thứ Hai, cô tổng phụ trách nói qua micro: “Lớp nào còn ồn, cô sẽ chờ.”
Đáp án: Nhân vật giao tiếp: cô tổng phụ trách và học sinh toàn trường. Bối cảnh hẹp: sân trường, buổi chào cờ sáng thứ Hai; bối cảnh rộng: môi trường học đường đề cao nề nếp. Hiện thực được nói tới: việc một số lớp còn mất trật tự. Văn cảnh: lời nhắc đứng cuối buổi, sau các thông báo. Nhờ ngữ cảnh, ai cũng hiểu câu “cô sẽ chờ” thực chất là yêu cầu giữ im lặng.
Câu 4: Vì sao khi đọc bài Bánh trôi nước cần biết về xã hội thời Hồ Xuân Hương?
Đáp án: Vì đó là bối cảnh rộng của bài thơ. Không có nó, người đọc chỉ thấy lời tả chiếc bánh. Biết thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến, người đọc nhận ra tầng nghĩa thứ hai: vẻ đẹp, sự long đong và tấm lòng son sắt của người phụ nữ.
Một mẹo khi làm bài: câu hỏi có cụm “trong ngữ cảnh” thì đừng chép nghĩa từ điển rồi dừng. Hãy chỉ ra từ ngữ hay chi tiết nào xung quanh khiến mình chọn nghĩa đó.
Ngữ cảnh trong đề đọc hiểu và lúc trò chuyện
Ngữ cảnh tiếng Anh là gì?
Là context. Trong học tiếng Anh, người ta hay nói guess the meaning from context, tức đoán nghĩa từ mới dựa vào ngữ cảnh, đúng như kỹ năng học sinh luyện ở môn Ngữ văn.
Các nhân tố của ngữ cảnh gồm những gì?
Có bốn nhân tố: những người tham gia giao tiếp, bối cảnh ngoài ngôn ngữ (gồm bối cảnh rộng và tình huống cụ thể), chuyện được nói tới và văn cảnh. Ba nhân tố đầu nằm ngoài câu chữ, văn cảnh nằm ngay trong văn bản.
Ngữ cảnh là gì lớp 7?
Ở lớp 7 (Chân trời sáng tạo), ngữ cảnh được học để xác định nghĩa của từ ngữ: một từ quen thuộc, khi đặt vào câu thơ, câu văn cụ thể, có thể mang nghĩa khác với nghĩa thường dùng. Học sinh cần chỉ ra từ ngữ xung quanh làm căn cứ.
Vì sao nói chuyện qua tin nhắn hay bị hiểu lầm?
Vì tin nhắn mất đi một phần ngữ cảnh: không có giọng nói, nét mặt, cử chỉ. Chữ “Ừ” nói trực tiếp kèm nụ cười rất khác chữ “Ừ.” gõ trơ trọi lúc khuya. Đó cũng là lý do người ta thêm biểu tượng cảm xúc để bù lại phần ngữ cảnh đã mất.