Mơn mởn là tính từ tả cây lá còn non, mượt, tươi tốt và căng đầy sức sống, như ruộng mạ mới lên hay chồi bàng đầu xuân. Cụm quen nhất là “xanh mơn mởn”. Từ cây cỏ, người ta mượn sang tả tuổi trẻ: “tuổi xuân mơn mởn”. Về cấu tạo, mơn mởn là từ láy, đọc lên đã nghe mềm và mát.
| Nghĩa ngắn | (Cây, lá) non, mượt, tươi, căng sức sống |
| Loại từ | Tính từ, từ láy thuần Việt |
| Hay đi với | xanh mơn mởn, lúa non mơn mởn, tuổi xuân mơn mởn |
| Sắc thái | Tích cực, gợi cảm, giàu hình ảnh |

Mơn mởn tả cái non nào?
Không phải cái gì non cũng mơn mởn. Một quả chuối xanh non thì không ai gọi thế. Từ này dành cho lá, cho cỏ, cho ngọn rau, những thứ vừa nhú lên, mặt lá còn bóng, sờ vào mượt và như có nước bên trong. Từ điển giảng mơn mởn là non mượt, tươi tốt, căng tràn sức sống; Wiktionary tiếng Việt viết gọn hơn: non và tươi đẹp.
Ba nét ấy (non, mượt, đầy sức sống) phải đi cùng nhau. Cây non mà héo rũ vì nắng thì hết mơn mởn. Lá xanh tốt nhưng đã già, dày, sẫm màu cũng không còn mơn mởn nữa. Vài câu đặt thử:
- Sau trận mưa đêm, luống cải sau nhà mơn mởn hẳn lên.
- Tháng hai, cánh đồng mạ xanh mơn mởn chạy tới tận chân đê.
- Mấy chậu húng quế mẹ trồng ngoài ban công đang ra lứa lá mơn mởn.
- Cô gửi tặng lớp tấm ảnh hồi mười tám tuổi, cái tuổi xuân mơn mởn của cô.
Khi dùng cho người, từ này nên dừng ở tuổi xuân, nụ cười, nước da hồng hào. Đem nó ra bình phẩm thân thể người khác thì câu văn dễ thành khiếm nhã.
“Ta muốn ôm” và sức sống mơn mởn trong thơ Xuân Diệu
Học trò gặp chữ này ở đoạn cao trào của bài Vội vàng:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
Xuân Diệu không ôm một cái cây, một cánh đồng. Ông muốn ôm “cả sự sống”, và chọn đúng chữ của mầm non để tả nó. Sự sống trong mắt nhà thơ là thứ vừa mới bắt đầu, còn mượt, còn tươi, chưa kịp già. Vì thế cái vội vàng của ông mới có lí: phải ôm ngay, kẻo cái mơn mởn ấy trôi qua. Đọc trọn bài thơ và bố cục của nó ở bài Vội vàng in trong tập Thơ thơ.
Ý thơ này gần với cách người Việt gọi tuổi trẻ là mùa xuân của đời người. Chuyện chữ nghĩa quanh hai chữ ấy có ở bài thanh xuân và mùa xuân của một đời người.
Đứng cạnh mơn mởn: non tơ, mỡ màng, xanh rờn
Mơn mởn là từ láy, lặp lại cả tiếng nhưng đổi thanh: tiếng đầu thanh ngang, tiếng sau thanh hỏi. Cách láy này cũng thấy ở đo đỏ, tim tím, trăng trắng; ai muốn ôn lại các kiểu thì xem kiểu láy lặp lại cả tiếng nhưng đổi dấu.
| Từ | Khác mơn mởn ở đâu |
|---|---|
| Non tơ | Nhấn vào tuổi còn nhỏ, mảnh, chưa cứng cáp |
| Mỡ màng | Lá to, xanh đậm, bóng như có mỡ; tốt nhưng không nhất thiết non |
| Xanh rờn | Nhấn màu xanh tươi trải rộng, hay dùng cho đồng ruộng |
| Tươi tốt | Nghĩa chung, ít hình ảnh hơn |
Ở phía ngược lại là những từ tả cây đã mất sức: héo úa, úa vàng, cằn cỗi, xơ xác, khô héo. Đặt hai phía cạnh nhau trong một câu, ta thấy rõ sức gợi của từ láy: “Cây cà héo úa sau đợt nắng, nhưng chỉ ba hôm tưới đều đã trổ lứa lá mơn mởn.”
Một lỗi hay gặp là viết “mơn mỡn” với dấu ngã. Chữ đúng mang dấu hỏi ở tiếng sau, đọc nhẹ, hơi lên giọng như chính cái lá đang vươn lên.
Khi mơn mởn đi kèm màu xanh, người viết còn có xanh rờn, xanh mượt; bảng đồng nghĩa, trái nghĩa với xanh mướt cho biết từ nào hợp với cỏ, từ nào hợp với lúa.
Mơn mởn trong bài tả cảnh và trong lời ăn tiếng nói
Xanh mơn mởn là gì?
Là màu xanh của cây lá còn non, bóng mượt và tươi. Cụm này hay dùng trong bài văn tả cánh đồng, vườn rau, hàng cây mùa xuân, khi muốn người đọc thấy được cả sức sống chứ không chỉ màu sắc.
Mơn mởn là từ láy hay từ ghép?
Mơn mởn là từ láy toàn bộ: tiếng sau lặp lại tiếng trước, chỉ thay đổi thanh điệu. Tách riêng, “mơn” và “mởn” đều không đứng một mình mang nghĩa này.
Có thể dùng mơn mởn để tả người không?
Có, theo nghĩa bóng, thường là “tuổi xuân mơn mởn” hay “làn da mơn mởn” để khen sự trẻ trung, khỏe mạnh. Nên dùng tế nhị, không dùng để bình phẩm ngoại hình người khác.