Mạt gà là loài bọ rất nhỏ sống trong chuồng gà, đêm bò ra hút máu gà và các loài gia cầm, ngày trốn vào khe gỗ, ổ rơm. Tên khoa học của nó là Dermanyssus gallinae; dân gian còn gọi là bọ mạt, bọ mát. Ai từng ôm ổ rơm gà đẻ rồi ngứa ran cả cánh tay thì đã gặp con mạt gà, dù chưa chắc nhìn thấy nó.
| Nghĩa | Loài bọ chân đốt tí hon, hút máu gia cầm, sống trong chuồng trại |
| Tên gọi khác | Bọ mạt, bọ mát; tiếng Anh: poultry red mite, chicken mite |
| Loại từ | Danh từ (danh từ ghép: mạt + gà) |
| Thuộc nhóm | Lớp hình nhện (nhóm ve, mạt), không phải côn trùng |

Mạt gà là con gì?
Từ điển tiếng Việt giải nghĩa bọ mạt là loài bọ chân đốt, hay ở trong rơm rạ hoặc sống bám trên gà, vịt, đốt rất ngứa. Chữ gà phía sau chỉ nơi nó hay gặp nhất, chứ con mạt không kén riêng gà; vịt, bồ câu, chim cảnh đều có thể là vật chủ.
Con mạt trưởng thành chỉ dài chừng một milimét, nhỏ như hạt cát mịn. Lúc đói, thân nó màu xám nhạt, gần như lẫn vào bụi chuồng. Hút no máu rồi, bụng căng lên và chuyển sang đỏ sẫm, vì thế người nuôi gà ở nước ngoài gọi nó là red mite, “con mạt đỏ”.
Điều làm mạt gà khác nhiều loài ký sinh là giờ giấc. Ban ngày nó không ở trên mình gà mà nấp trong kẽ ván, chân sào đậu, góc ổ đẻ. Đêm xuống, khi gà ngủ, nó mới bò lên hút máu rồi rút về chỗ trốn. Người ta bắt một con gà ra xem giữa trưa có khi chẳng thấy con mạt nào, trong khi khe chuồng lúc nhúc cả đàn.
Vòng đời ngắn, chỉ khoảng một, hai tuần từ trứng đến con trưởng thành nếu chuồng ấm, nên đàn mạt sinh sôi rất nhanh. Chúng lại nhịn đói được nhiều tháng, nên một cái chuồng bỏ trống lâu vẫn có thể còn mạt.
Một chữ “mạt”, ba lối nghĩa
Gõ chữ mạt một mình vào từ điển, ta gặp ba nhóm nghĩa không liên quan gì đến nhau:
- Con mạt: chính là bọ mạt, như trong mạt gà.
- Vụn nhỏ: phần vụn rơi ra khi cưa, giũa, đập: mạt cưa, mạt sắt, đá mạt.
- Thấp kém, cuối cùng: lớp nghĩa gốc Hán (末: ngọn, cuối), có trong rẻ mạt, mạt hạng, đốn mạt, thời Lê mạt.
Ba nghĩa đọc giống hệt nhau nên đôi khi tạo ra những câu nghe buồn cười. “Chuồng gà toàn mạt” có thể hiểu là toàn bọ, cũng có thể là toàn vụn gỗ rải lót. Người nói thường phải thêm chữ: bọ mạt cho con vật, mạt cưa cho vụn gỗ. Nhắc chuyện chữ gốc Hán gắn với gà, tiếng Hán Việt gọi gà là kê; bài ngọc kê và chữ kê của con gà kể kỹ chuyện ấy.
Ở lớp nghĩa thứ ba, tính từ đốn mạt là lời chê nặng bậc nhất, nhắm vào kẻ phản bội hay lừa lọc người yếu thế.
Mạt gà khác ve, rận và bọ chét chỗ nào?
Ở quê, người ta hay gọi lẫn mọi con bọ hút máu là ve, là rận. Thật ra mỗi tên chỉ một loài khác nhau:
| Tên | Thuộc nhóm | Đặc điểm dễ nhận |
|---|---|---|
| Mạt gà | Hình nhện, tám chân | Nhỏ cỡ hạt cát; ngày trốn trong khe chuồng, đêm mới bò lên gà |
| Ve (bét) | Hình nhện, tám chân | To hơn hẳn, cắm đầu bám chặt trên da trâu bò, chó mèo nhiều ngày |
| Rận | Côn trùng, sáu chân, không cánh | Thân dẹp, sống luôn trên mình vật chủ |
| Bọ chét | Côn trùng, sáu chân | Nhảy rất xa, hay gặp trên chó mèo |
Cái tên đồng nghĩa gần nhất của mạt gà là bọ mạt, bọ mát. Không có từ trái nghĩa theo đúng kiểu tính từ. Chỗ dễ nhầm nhất là mạt gà với mạt cưa: một bên là con vật, một bên là thứ vụn gỗ mà nhiều nhà lại đem rải lót chuồng gà.
Mạt gà có thể bò sang người khi ở gần chuồng, nhất là lúc chuồng vắng gà. Nó không sống lâu trên da người nhưng vết đốt gây ngứa, nổi mẩn. Ai ngứa kéo dài sau khi dọn chuồng thì nên đi khám để bác sĩ xem đúng nguyên nhân, thay vì tự đoán. Vì mạt chỉ ra ăn lúc tối, muốn biết chuồng có mạt hay không thì soi đèn vào khe sào đậu ban đêm là dễ thấy nhất: những chấm đỏ li ti đang bò chính là chúng. Ai chú ý đến bộ lông gà hẳn cũng biết chữ trổ mã gốc từ chuyện gà trống thay lông, một từ khác sinh ra từ cái chuồng gà.
Bọ mạt, mạt đỏ và con mạt trong lời người nuôi gà
Mạt gà có nhìn thấy bằng mắt thường không?
Có, nhưng khó. Từng con chỉ như một chấm nhỏ; dễ thấy nhất là khi chúng tụ thành đám trong khe chuồng hoặc khi đã hút no máu, chuyển màu đỏ.
Mạt gà có cắn người không?
Có thể. Khi thiếu gia cầm để hút máu, mạt bò sang người ở gần và đốt gây ngứa. Chúng không ở lâu trên người; nếu ngứa nhiều hoặc kéo dài, nên hỏi ý kiến bác sĩ.
Mạt gà tiếng Anh là gì?
Thường gọi là poultry red mite, red mite hoặc chicken mite. Trong tài liệu khoa học dùng tên Latinh Dermanyssus gallinae.
Bọ mạt và mạt gà có phải là một?
Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày thì gần như là một. Từ điển giải nghĩa bọ mạt là loài bọ sống trong rơm rạ, bám trên gà vịt; chữ “mạt gà” chỉ nói rõ thêm nơi người ta hay gặp nó.