Kê gà là tên gọi trong ẩm thực của tinh hoàn gà trống, một loại phụ phẩm hình bầu dục, ăn béo và mềm, hay được hấp, xào hoặc nấu cháo. Món này còn có tên là ngọc kê. Hỏi kê gà là gì thì nhiều người bất ngờ, vì chữ “kê” quen thuộc nhất lại là hạt kê, thứ ngũ cốc nhỏ li ti người ta vẫn rắc cho gà ăn.
| Nghĩa ngắn | Tinh hoàn của gà trống, dùng làm thực phẩm |
| Tên khác | Ngọc kê |
| Loại từ | Danh từ, dùng trong lời ăn tiếng nói ở chợ, quán ăn |
| Dễ nhầm với | Hạt kê (một loại ngũ cốc), mề gà |

Kê gà, ngọc kê là phần nào của con gà
Các trang ẩm thực và dinh dưỡng đều thống nhất: kê gà là bộ phận sinh dục của gà trống, nằm trong khoang bụng. Mỗi con chỉ có một cặp, hình bầu dục, cỡ chừng nửa ngón tay; gà to con thì kê cũng lớn hơn. Nấu chín, kê có màu trắng ngà, ruột mềm, ăn béo như đậu phụ.
Ở chợ, người bán thường gom riêng loại này để bán theo cân, ghi biển “kê gà” hay “ngọc kê”. Ngoài hàng quán, nó xuất hiện trong thực đơn với các món như kê gà hấp gừng hành, kê gà xào, cháo kê gà, lẩu.
Vì chỉ dùng trong chuyện bếp núc, đây là từ của đời sống hằng ngày, không phải từ văn chương. Khi viết trang trọng, ví dụ trong một bài thuyết minh về món ăn, có thể ghi đầy đủ “tinh hoàn gà trống (thường gọi là kê gà)”.
Vì sao lại gọi là kê?
Chưa có tài liệu nào giải thích chắc chắn nguồn gốc cách gọi này. Có một manh mối dễ thấy: trong Hán Việt, kê (雞) nghĩa là con gà. Chữ ấy có mặt trong nhiều từ quen như cẩm kê (gà gô), dã kê (gà rừng), ô cốt kê (gà ô cốt), hay thành ngữ sát kê thủ noãn (giết gà lấy trứng). “Ngọc kê” vì thế có thể hiểu là “viên ngọc của con gà”, một tên gọi mĩ miều cho món ăn. Kê gà nhiều khả năng là cách nói rút gọn từ ngọc kê cộng thêm chữ “gà” thuần Việt cho rõ nghĩa.
Từ Hán Việt đi vào lời nói dân dã thường được gắn thêm một chữ thuần Việt như thế để người nghe dễ hiểu. Nếu quan tâm tới lớp từ này, bạn có thể đọc thêm về lớp từ gốc Hán trong vốn từ tiếng Việt.
Đừng lẫn kê gà với hạt kê hay mề gà
Chữ “kê” trong tiếng Việt có tới mấy nghĩa không dính dáng gì nhau. Từ điển tiếng Việt ghi: kê là một loại cây lương thực họ lúa, hạt rất nhỏ, màu vàng; kê còn là động từ chỉ việc đệm vật cứng cho khỏi lệch (kê chân bàn), đặt đồ đạc vào chỗ (kê giường sát tường), hoặc ghi ra từng món (kê đơn, liệt kê). Đó là những từ đọc giống nhau mà nghĩa khác xa.
| Cách nói | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Kê gà, ngọc kê | Tinh hoàn gà trống, một món ăn | Quán có món kê gà hấp gừng. |
| Hạt kê | Ngũ cốc hạt nhỏ, màu vàng; dùng nấu chè, nấu cháo hoặc làm thức ăn cho chim, gà | Bà rắc một nắm hạt kê cho đàn gà con. |
| Mề gà | Dạ dày cơ của gà, dai và giòn | Mề gà xào nghệ. |
| Trứng non | Chùm trứng chưa thành vỏ trong bụng gà mái | Cháo trứng non. |
Vậy câu “cho gà ăn kê” là nói hạt ngũ cốc, còn “mua nửa cân kê gà” là nói món ăn. Nghe thì giống, nhưng ngữ cảnh đã đủ để phân biệt.
Người nuôi gà còn hay nhắc một chữ khác dễ lẫn là mạt, loài bọ tí hon sống trong chuồng; mạt gà là gì tả con vật này và các nghĩa khác của chữ mạt.
Kê gà qua vài câu hỏi ngắn
Kê gà là con gì?
Không có con vật nào tên là kê gà cả. Từ này chỉ một bộ phận của gà trống, cụ thể là tinh hoàn, được bán riêng như một loại thực phẩm.
Ngọc kê là gì?
Ngọc kê là tên gọi khác, nghe trang nhã hơn, của kê gà. Hai tên chỉ cùng một thứ.
Kê gà và hạt kê có liên quan gì nhau không?
Không. Hạt kê là một loại ngũ cốc; kê gà là một bộ phận của con gà. Chúng chỉ trùng chữ “kê” khi đọc.
Gà mái có kê không?
Không. Chỉ gà trống mới có kê. Trong bụng gà mái người ta thường lấy được trứng non, một món khác hẳn.