Trổ mã là lớn lên và thay đổi rõ về vóc dáng, ngoại hình, thường nói về thiếu niên khi bước vào tuổi dậy thì: cao vọt lên, gương mặt rõ nét hơn, trông chững chạc và ưa nhìn hơn trước. Người ta hay nói “con gái trổ mã”, “thằng bé dạo này trổ mã” như một lời khen nhẹ. Từ này mượn hình ảnh con gà trống mọc bộ lông đẹp khi trưởng thành.
| Nghĩa ngắn | Phát triển vóc dáng, lớn phổng lên và đẹp ra ở tuổi mới lớn |
| Gốc từ | “Trổ” là nảy ra, đâm ra; “mã” là bộ lông óng mượt của gà trống trưởng thành |
| Loại từ | Động từ, khẩu ngữ |
| Sắc thái | Thân mật, thường mang ý khen |

Trổ mã là lớn lên thế nào?
Wiktionary tiếng Việt giảng ngắn: trổ mã là phát triển vóc dáng. Trong lời nói hằng ngày, từ này thường dành cho một quãng đời cụ thể, khi đứa trẻ thành cô thiếu nữ, cậu thiếu niên. Người lớn gặp lại sau một mùa hè và thốt lên: đứa bé gầy nhom năm nào giờ đã cao hơn cả mẹ.
Những thay đổi được gọi là trổ mã chủ yếu là những gì nhìn thấy bên ngoài: chiều cao tăng nhanh, vai, dáng người thay đổi, gương mặt bớt bầu bĩnh, giọng nói khác đi. Con gái thường bước vào giai đoạn dậy thì sớm hơn con trai một chút, nên các bạn nữ hay “trổ mã” trước các bạn nam cùng lớp.
- Mới lên lớp tám mà con bé đã trổ mã, cao gần bằng bố.
- Hồi tiểu học cậu ấy thấp nhất lớp, lên cấp ba mới trổ mã.
- Ảnh kỉ yếu năm nay cho thấy cả lớp đã trổ mã, ai cũng khác hẳn tấm ảnh năm lớp sáu.
Cần phân biệt một chút: dậy thì là quá trình cơ thể chuyển từ trẻ con sang người lớn, diễn ra bên trong và kéo dài nhiều năm. Trổ mã chỉ là cách người xung quanh nhận ra kết quả của quá trình ấy qua vẻ ngoài, và gần như luôn kèm ý khen.
Từ con gà trống đến cô cậu tuổi mười lăm
Chữ mã trong trổ mã không phải chữ Hán chỉ con ngựa, cũng chẳng phải mã số. Từ điển tiếng Việt ghi một nghĩa riêng: mã là đám lông đẹp, óng mượt ở cổ và gần đuôi của gà, chim trống khi đã trưởng thành; ví dụ từ điển đưa ra chính là gà mới trổ mã. Chữ trổ nghĩa là nảy ra, đâm ra, như lúa trổ đòng, cau trổ buồng.
Vậy “trổ mã” thoạt đầu tả cảnh con gà trống tơ đến lúc bung ra bộ lông sặc sỡ. Người Việt quen quan sát gà trong sân nhà, nên mượn hình ảnh ấy để nói về con người: đến tuổi, đứa trẻ cũng “bung” ra một vẻ ngoài mới.
Từ nghĩa lông gà, chữ mã còn được dùng trong khẩu ngữ để chỉ vẻ bên ngoài nói chung. Người ta bảo ai đó “tốt mã” là khen đẹp mã, có khi kèm ý chê chỉ đẹp ở vẻ ngoài. Câu “gà trống tốt mã” trong lời ăn tiếng nói dân gian cũng mang sắc thái ấy.
Những chữ đi cùng: phổng phao, dậy thì, lột xác
| Từ | Nghĩa | So với trổ mã |
|---|---|---|
| Phổng phao | Đang lớn phổng, nở nang, khỏe khoắn | Gần nghĩa, thiên về vẻ khỏe mạnh |
| Dậy thì | Giai đoạn cơ thể trẻ em phát triển thành người lớn | Từ khoa học, trung tính; trổ mã là cách nói đời thường |
| Dậy thì thành công | Cách nói của giới trẻ: lớn lên đẹp hơn hẳn | Gần như trổ mã, giọng vui đùa hơn |
| Lột xác | Thay đổi hoàn toàn về ngoại hình hoặc phong cách | Rộng hơn, dùng cả cho người lớn |
| Còi cọc, chậm lớn (trái nghĩa) | Gầy nhỏ, phát triển chậm hơn bạn bè | Ngược hướng với trổ mã |
Lời khen trổ mã thường dễ nghe, nhưng cũng có lúc không đúng chỗ. Mỗi người lớn theo một nhịp riêng; trêu một bạn “mãi chưa trổ mã” hay bình phẩm kĩ từng thay đổi trên cơ thể bạn bè là dễ biến lời đùa thành miệt thị ngoại hình người khác. Tuổi này cũng là lúc nhiều bạn để ý vẻ ngoài của nhau hơn; chẳng thế mà giới trẻ có cả những từ lóng như lời khen trai đẹp kiểu cộng tươi.
Câu khen dễ chịu nhất thường là câu khen kèm sự quan tâm: “Cao lên nhiều quá, dạo này ăn ngủ tốt hả con?” thay vì soi xem ai béo lên, ai gầy đi.
Trổ mã ở con trai, con gái và lời khen đúng chỗ
Con gái trổ mã là gì?
Là khi bé gái lớn lên thành thiếu nữ: cao lên, gương mặt thanh tú hơn, cách ăn mặc, đi đứng cũng ra dáng người lớn. Câu “con gái trổ mã” thường là lời nhận xét trìu mến của người lớn trong nhà, hàng xóm.
Con trai trổ mã thường ở tuổi nào?
Không có một tuổi cố định. Nhìn chung con trai bước vào dậy thì muộn hơn con gái một chút, nên nhiều bạn nam đến cuối cấp hai, đầu cấp ba mới cao vọt lên. Sớm hay muộn vài năm đều là chuyện bình thường.
Trổ mã và dậy thì thành công có giống nhau không?
Gần giống. “Dậy thì thành công” là cách nói vui của giới trẻ, nhấn vào chuyện đẹp lên bất ngờ; “trổ mã” là từ có sẵn trong tiếng Việt, dùng được cả trong văn viết.
Viết “trổ mã” hay “trỗ mã”?
Nên viết trổ mã với dấu hỏi. Từ điển có ghi “trỗ” là biến thể của “trổ” ở nghĩa nảy ra, nhưng cách viết phổ biến và được dùng trong ví dụ từ điển là “trổ mã”.