Lương tri là cái biết phải trái, tốt xấu vốn có sẵn trong mỗi người, không đợi ai dạy mới có. Hỏi “lương tri nghĩa là gì” thì đó là nghĩa gốc; trong tiếng Việt hôm nay, chữ này còn dùng gần như lương tâm, và nói ai đó là “người có lương tri” tức là khen người ấy biết điều phải, không làm điều trái dù chẳng ai bắt.
| Nghĩa ngắn | Khả năng tự nhận ra đúng sai, thiện ác; gần nghĩa với lương tâm |
| Gốc từ | Hán Việt 良知: lương (tốt lành, vốn có) + tri (biết) |
| Loại từ | Danh từ |
| Sắc thái | Trang trọng, hay gặp trong văn nghị luận, báo chí, lời kêu gọi |

Lương tri: cái biết không cần học
Chữ này có hai lớp nghĩa. Lớp thứ nhất là năng lực phán đoán tỉnh táo, công bằng, nhất là với những chuyện mà sách vở hay kiến thức chuyên môn không trả lời thay mình được: thấy người ngã thì biết nên đỡ, thấy kẻ yếu bị bắt nạt thì biết thế là sai. Lớp thứ hai rộng hơn, dùng thay cho lương tâm, chỉ tiếng nói bên trong nhắc ta đừng làm điều xấu.
Từ điển Hán Việt của Nguyễn Quốc Hùng nhấn vào chỗ “trời phú”: đó là hiểu biết tốt lành sẵn có, không học mà biết. Vì vậy người ta hay nói đánh thức lương tri, như thể nó chỉ đang ngủ chứ không mất hẳn, hoặc trái với lương tri khi một việc làm sai đến mức ai bình thường cũng thấy.
Đi với chữ này còn có những cụm quen mặt trên báo: lương tri nhân loại, lương tri thời đại, tiếng gọi của lương tri. Ở đó, lương tri không còn là chuyện riêng một người mà là cái phải trái chung mà cả cộng đồng cùng thừa nhận.
良知 và câu nói của Mạnh Tử
Hai chữ 良知 có từ rất sớm, trong thiên Tận tâm sách Mạnh Tử. Đại ý: điều người ta không học mà làm được gọi là lương năng, điều không phải nghĩ ngợi mà vẫn biết gọi là lương tri. Mạnh Tử lấy ví dụ rất đời: đứa trẻ con chẳng ai dạy cũng biết thương cha mẹ, lớn lên chút nữa thì biết kính anh.
Chữ lương 良 ở đây nghĩa là tốt, lành, và cả “vốn có từ đầu”; chữ tri 知 là biết. Cùng một ý ấy, Mạnh Tử còn bàn về lòng thương người thấy nạn, có trong bài giải nghĩa chữ trắc ẩn mà Mạnh Tử từng bàn. Gần hai nghìn năm sau, Vương Dương Minh đời Minh lấy “trí lương tri” (đưa lương tri đến chỗ trọn vẹn) làm trục cho cả học thuyết của mình, nên chữ này còn mang dáng dấp triết học khi gặp trong sách nghiên cứu.
Lương tri, lương tâm và lý trí khác nhau sao?
| Từ | Nghiêng về | Câu dùng |
|---|---|---|
| Lương tri | Cái biết đúng sai có sẵn | Việc ấy trái với lương tri. |
| Lương tâm | Cái cảm: day dứt khi làm sai, thanh thản khi làm đúng | Lương tâm cắn rứt suốt mấy đêm. |
| Lý trí | Suy xét, tính toán bằng lý lẽ | Lý trí bảo dừng, nhưng lòng lại muốn đi. |
| Thiên lương | Bản tính tốt trời cho, giọng văn chương | Giữ được thiên lương giữa chốn tù ngục. |
Lương tri và lương tâm thay được cho nhau trong nhiều câu, vì cả hai đều chung chữ lương 良. Chỗ khác nằm ở nhịp câu: nói “lương tâm cắn rứt” thì tự nhiên, còn “lương tri cắn rứt” nghe lạ tai. Muốn đọc kỹ hơn về vế bên kia, xem bài chữ lương tâm 良心 và lúc nó cắn rứt.
Trái nghĩa với người có lương tri là kẻ vô lương tâm, táng tận lương tâm, bất nhân. Người ta ít nói “vô lương tri”, nhưng nói “bịt tai trước lương tri” thì có.
Quang Trung gọi quân sĩ là người có lương tri
Học sinh gặp chữ này trong hồi mười bốn Hoàng Lê nhất thống chí. Trước khi tiến quân ra Bắc, vua Quang Trung dụ tướng sĩ, gọi họ là những người có lương tri (có bản chép thành “lương tri lương năng”), rồi dặn đừng ăn ở hai lòng. Một câu vừa nâng người nghe lên, vừa ràng buộc: đã được coi là người biết phải trái thì không thể làm điều phản trắc. Nguyên văn đoạn này và câu hỏi đọc hiểu có ở bài soạn đoạn trích vua Quang Trung đánh quân Thanh.
Đời thường cũng dùng được, chỉ cần câu đủ trang trọng: “Nhặt được ví tiền mà đem nộp lại, chẳng phải vì sợ ai, chỉ vì lương tri không cho phép giữ.”
Một chỗ dễ đọc chệch: chữ lương trong lương tri là 良 (tốt lành), cùng họ với lương thiện, lương y, hoàn toàn khác chữ lương 糧 trong lương thực hay chữ lương của tiền lương. Nhớ được chữ lương thiện là nhớ được lương tri.
Đặt chữ lương tri vào câu cho trúng
Người có lương tri là người như thế nào?
Là người tự biết điều gì nên làm, điều gì không, và làm theo cái biết ấy dù không có ai giám sát. Họ không cần luật cấm mới thôi bắt nạt người yếu.
Lương tri và lương tâm có dùng thay nhau được không?
Phần lớn là được, vì từ điển xếp lương tri là một cách gọi khác của lương tâm. Riêng những cụm đã quen như “lương tâm cắn rứt”, “vô lương tâm” thì nên giữ nguyên chữ lương tâm.
Đánh thức lương tri là gì?
Là làm cho người ta nhận ra điều sai mà trước đó họ lờ đi. Một bức ảnh, một câu chuyện thật có thể đánh thức lương tri của cả xã hội trước một bất công.
Lương tri tiếng Anh là gì?
Khi dùng theo nghĩa lương tâm, tiếng Anh thường dịch là conscience. Muốn nhấn vào cái biết phải trái nói chung thì có thể diễn bằng moral sense.