Luật hấp dẫn là niềm tin cho rằng suy nghĩ của con người “hút” về những trải nghiệm giống nó: nghĩ tích cực sẽ gặp điều tốt, nghĩ tiêu cực sẽ rước điều xấu. Ý tưởng này đến từ phong trào Tư tưởng Mới ở Mỹ thế kỷ XIX, tiếng Anh là law of attraction. Cần nói rõ ngay: luật hấp dẫn không phải định luật khoa học và chưa có bằng chứng thực nghiệm nào chứng minh nó.
| Nghĩa ngắn | Niềm tin rằng ý nghĩ tích cực hay tiêu cực sẽ kéo đến sự việc tương ứng trong đời |
| Gốc | Law of attraction, phong trào Tư tưởng Mới (New Thought) ở Mỹ thế kỷ XIX |
| Phổ biến nhờ | Phim tài liệu và sách The Secret của Rhonda Byrne, ra mắt năm 2006 |
| Đánh giá khoa học | Chưa được chứng minh; nhiều nhà khoa học xếp vào ngụy khoa học |
| Dễ nhầm với | Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton trong môn Vật lí |

Luật hấp dẫn nói gì, ai đưa ra
Theo cách những người tin theo trình bày, mỗi ý nghĩ là một dạng “năng lượng”. Năng lượng giống nhau sẽ hút nhau, nên người luôn lo lắng sẽ gặp thêm chuyện đáng lo, còn người tin chắc mình sẽ thành công thì sẽ được “vũ trụ” đáp lại. Muốn có điều gì, hãy nghĩ về nó, cảm thấy như đã có nó, rồi chờ nó đến.
Ý tưởng này lớn lên trong phong trào Tư tưởng Mới ở Mỹ, khởi đi từ những bài giảng của Phineas Quimby về chuyện tâm trí có thể ảnh hưởng tới sức khỏe. Cuối thế kỷ XIX, một số tác giả của phong trào bắt đầu viết về nó như một “quy luật” chung cho mọi mặt đời sống: tiền bạc, công việc, quan hệ. Hơn một trăm năm sau, phim tài liệu The Secret của Rhonda Byrne (2006) và cuốn sách cùng tên đưa khái niệm này đến rất nhiều người đọc trên khắp thế giới.
Wikipedia, cả bản tiếng Anh lẫn tiếng Việt, đều ghi rằng chưa có bằng chứng khoa học thực nghiệm cho luật hấp dẫn và nhiều người xếp nó vào ngụy khoa học. Những câu chuyện “nghĩ là được” mà người ta hay kể chủ yếu là trải nghiệm cá nhân, không kiểm chứng được.
Người tin luật hấp dẫn thường làm gì
Trên mạng xã hội, luật hấp dẫn hiện ra qua những thói quen khá dễ nhận ra:
- Nói và viết câu khẳng định mỗi sáng, kiểu “Mình xứng đáng với điều tốt đẹp”, “Tiền đến với mình dễ dàng”.
- Hình dung thật chi tiết điều mình muốn: ngôi trường, căn nhà, buổi lễ tốt nghiệp, như thể nó đã xảy ra.
- Dán ảnh mục tiêu lên một tấm bảng, đặt ở chỗ ngày nào cũng nhìn thấy.
- Tránh nói ra điều xấu vì sợ “nói gở thì gở đến”, có khi tránh cả việc kể chuyện buồn với bạn.
- Dùng chữ “vũ trụ” trong lời nói thường ngày: “gửi tín hiệu cho vũ trụ”, “vũ trụ đã nghe thấy”.
Việc viết ra điều ước, hình dung mục tiêu cho thành thật được giới trẻ gọi bằng một chữ ngắn hơn. Bài trào lưu manifest và chữ MNF của Gen Z nói về cách dùng từ ấy. Có thể hiểu gọn: luật hấp dẫn là niềm tin nền, còn manifest là việc làm cụ thể dựa trên niềm tin đó.
Tấm bảng dán ảnh mục tiêu ấy có tên riêng là vision board, bảng mục tiêu, và cách làm nó cũng có nhiều lối khác nhau.
Vì sao luật hấp dẫn cuốn hút, và mặt trái của nó?
Sức hút đầu tiên nằm ở cảm giác được làm chủ. Khi đời có nhiều thứ ngoài tầm tay, một lời hứa rằng chỉ cần đổi suy nghĩ là đổi được kết quả nghe rất dễ chịu. Nó cũng đơn giản, ai cũng làm được, không tốn tiền.
Cũng có một phần đúng nằm lẫn bên trong. Người đặt mục tiêu rõ ràng thường dễ lên kế hoạch và bám theo hơn. Người lạc quan thường bền bỉ hơn khi gặp khó, và vì bền bỉ nên có nhiều cơ hội thành công hơn. Nhưng ở đây, thứ tạo ra kết quả là hành động, không phải “năng lượng” của ý nghĩ.
Lí do khiến nhiều người tin rằng luật này “linh nghiệm” là trí nhớ chọn lọc. Ta nhớ rất rõ lần nghĩ đến một người bạn và ngay sau đó bạn ấy gọi điện, nhưng quên hàng trăm lần nghĩ đến mà chẳng ai gọi. Hiện tượng chỉ để ý tới bằng chứng hợp với điều mình tin này có tên riêng, được giải thích ở bài các kiểu thiên kiến nhận thức thường gặp.
Mặt trái thì đáng lưu ý hơn:
- Đổ lỗi cho người gặp nạn. Nếu ý nghĩ tạo ra mọi thứ, thì người ốm, người nghèo, người gặp tai nạn bị ngầm hiểu là “do họ nghĩ xấu”. Đây là lời phê phán nặng nhất mà các nhà phê bình đưa ra.
- Sợ cảm xúc buồn. Người tin quá mức có thể ép mình lúc nào cũng phải vui, giấu nỗi lo đi, rồi tự trách khi không làm được.
- Quyết định liều. Tin rằng “vũ trụ sẽ lo” có thể khiến người ta bỏ qua việc tính toán rủi ro trong học hành, tiền bạc.
Nếu thấy mình thường xuyên lo âu, sợ hãi vì “lỡ nghĩ tiêu cực”, hoặc tự trách kéo dài, hãy nói chuyện với người thân và cân nhắc gặp chuyên gia tâm lý. Điều đó tốt hơn nhiều so với cố ép mình chỉ được nghĩ điều vui.
Phần có cơ sở hơn nằm ở tâm lý học: lời tự nhủ lặp lại có thể đổi cách ta hành động, hiện tượng được gọi là tự kỷ ám thị.
Luật hấp dẫn, định luật vạn vật hấp dẫn và lạc quan
| Khái niệm | Thuộc lĩnh vực | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Luật hấp dẫn (law of attraction) | Niềm tin tâm linh, sách tự lực | Ý nghĩ hút về sự việc tương ứng; chưa được kiểm chứng |
| Định luật vạn vật hấp dẫn | Vật lí | Mọi vật có khối lượng đều hút nhau; đo đạc và kiểm chứng được |
| Lạc quan, tư duy tích cực | Tâm lí học, đời sống | Thái độ tin vào khả năng cải thiện tình hình, đi cùng hành động; không hứa hẹn “vũ trụ đáp lại” |
Học sinh gõ “luật hấp dẫn” để tìm bài Vật lí thì cần đúng tên gọi trong sách là định luật vạn vật hấp dẫn, gắn với Newton, hoàn toàn khác khái niệm ở bài này. Còn lạc quan là một phẩm chất được bàn trong nhiều đề nghị luận; nghĩa của chữ ấy có ở bài nghĩa chữ lạc quan và tinh thần yêu đời.
Ngoài thuật ngữ vật lí, chữ hấp dẫn thường ngày còn có cả một nhóm từ cùng nghĩa như lôi cuốn, cuốn hút, xem những từ cùng nghĩa với hấp dẫn.
Những câu hỏi quanh luật hấp dẫn
Luật hấp dẫn có thật không?
Chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh ý nghĩ tự nó kéo được sự việc đến. Phần có cơ sở là: suy nghĩ tích cực và mục tiêu rõ ràng giúp con người hành động bền bỉ hơn. Kết quả đến từ hành động ấy.
Luật hấp dẫn trong tình yêu là gì?
Là cách áp dụng niềm tin trên vào chuyện tình cảm: tin rằng nghĩ thật rõ về người mình muốn gặp, sống vui vẻ, tích cực thì sẽ “hút” được người phù hợp. Sống vui và tự tin đúng là khiến mình dễ mến hơn, nhưng một mối quan hệ vẫn cần hai người thật sự hiểu và chọn nhau.
Luật hấp dẫn và định luật vạn vật hấp dẫn có liên quan không?
Không. Hai khái niệm chỉ giống nhau ở chữ “hấp dẫn”. Một bên là định luật vật lí đo được bằng công thức, bên kia là niềm tin về sức mạnh của ý nghĩ.
Đọc sách The Secret có nên tin hết không?
Có thể giữ những lời nhắc có ích như đặt mục tiêu, biết ơn, bớt than phiền. Nhưng không nên tin rằng chỉ nghĩ là đủ, càng không nên cho rằng người gặp chuyện xui là tự “hút” lấy điều xấu.