Lữ khách là người đi đường xa, đang ở trên hành trình, rời nhà mình mà chưa tới nơi định đến. Đây là một từ Hán Việt mang màu cũ, gặp nhiều trong thơ văn, lời hát và tên quán xá hơn là trong câu nói hằng ngày. Gọi ai là người lữ khách, ta thường gợi cùng lúc hình ảnh con đường dài, chỗ nghỉ tạm bợ và chút nhớ nhà.
| Nghĩa ngắn | Khách đi đường xa, người đang trên chuyến đi |
| Gốc từ | Hán Việt 旅客: lữ (đi xa, ở trọ) + khách (người nơi khác đến) |
| Loại từ | Danh từ |
| Sắc thái | Từ cũ, văn chương; gợi sự phiêu bạt, cô đơn |

Lữ khách là người thế nào?
Từ điển tiếng Việt đánh dấu lữ khách là từ cũ, nghĩa là khách đi đường xa, đồng nghĩa với lữ hành. Từ điển Hán Nôm cũng giải 旅客 là người đi xa, người đi đường. Như vậy lữ khách không phải người đi chơi một hai hôm, cũng không phải người ngồi trên chuyến xe buýt nội thành. Chữ này cần một quãng đường đủ dài để người đi phải ngủ lại dọc đường.
Vì thế từ này hay đứng trong những câu có không khí chậm và xa:
- Quán nước đầu đèo là chỗ nghỉ chân quen của lữ khách qua lại.
- Ông kể mình từng làm lữ khách ba năm trên những chuyến tàu Bắc Nam.
- Trong nhật ký, cô tự gọi mình là “kẻ lữ khách giữa thành phố” khi mới lên học đại học.
Câu thứ ba cho thấy một cách dùng mở rộng: lữ khách không cần phải đang đi thật, chỉ cần cảm thấy mình là người ở tạm, chưa thuộc về nơi đang sống.
Chữ lữ: từ đạo quân đến người ở trọ
Chữ 旅 (lữ) có lịch sử khá thú vị. Theo Thiều Chửu, nghĩa xưa của nó là một toán quân năm trăm người; dấu vết ấy còn trong từ lữ đoàn. Từ hình ảnh đoàn quân hành tiến, chữ lữ mang thêm nghĩa đi xa, đi buôn, rồi ở trọ dọc đường. Người đi buôn xa gọi là thương lữ, quán trọ gọi là lữ quán, còn chỗ dừng chân tạm của người đi xa thì gọi là lữ thứ.
Chữ 客 (khách) là người từ nơi khác tới, đối lại với chủ. Ghép hai chữ, lữ khách là người khách của con đường: đi qua nhiều nơi nhưng ở đâu cũng chỉ là khách. Cùng họ với chữ lữ có lữ hành (đi đường xa, cũng chỉ người đi), du lữ, và trong tiếng Việt hiện đại là ngành lữ hành của các công ty du lịch.
Người lữ thứ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan
Hình ảnh lữ khách đậm nhất trong văn học trung đại có lẽ nằm ở hai câu kết bài bài thơ Chiều hôm nhớ nhà:
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?
Một số bản in chép “Chương Đài” thành “trang đài”. Người lữ thứ ở đây chính là kẻ đang ở nơi đất khách, xa người thân ở chốn cũ, chẳng biết tâm sự chuyện ấm lạnh với ai. Từ không xuất hiện trực tiếp, nhưng cả nỗi buồn của người lữ khách nằm gọn trong hai câu ấy.
Đến thơ mới, Thâm Tâm dùng một chữ khác hẳn trong bài Tống biệt hành của Thâm Tâm: li khách. Chữ li (離) là lìa, nên li khách là người sắp ra đi, đang ở giây phút chia tay. Lữ khách thì đã lên đường. Hai từ đọc gần giống nhau, nên khi làm bài phân tích cần chép cho đúng chữ của nhà thơ.
Lữ khách, du khách, hành khách khác nhau chỗ nào?
| Từ | Người được gọi | Sắc thái |
|---|---|---|
| Lữ khách | Người đi đường xa, đang trên hành trình | Cũ, văn chương, có chút phiêu bạt |
| Du khách | Người đi chơi, tham quan | Trung tính, hay dùng trong du lịch |
| Hành khách | Người đi tàu, xe, máy bay | Hành chính, gắn với phương tiện |
| Khách vãng lai | Người qua lại, ghé tạm một chỗ | Trung tính, nhấn vào việc không ở lâu |
| Li khách | Người ra đi trong cuộc chia tay | Văn chương, buồn |
Về nghĩa, gần với lữ khách còn có lữ hành, khách giang hồ, và theo một hướng khác là lãng tử, người sống phiêu lãng không chốn cố định, chuyện mà bài giải nghĩa chữ lãng tử nói kĩ hơn. Người chỉ ghé ngang một nơi thì gọi là khách qua lại, ghé tạm một nơi. Đối lại với lữ khách là chủ nhà, người bản xứ, người ở yên một chỗ.
Khi viết, đừng đặt lữ khách vào những câu thông báo như “Đề nghị quý lữ khách xếp hàng lên tàu”. Câu đúng là “quý hành khách”. Lữ khách là chữ để kể và để thương, không phải để xếp hàng.
Lữ khách trong câu văn, câu hát và bản dịch
Người lữ khách là gì?
Là cách nói đầy đủ hơn của lữ khách, chỉ người đang đi đường xa. Trong văn chương, “người lữ khách” thường mang theo tâm trạng cô đơn hoặc nhớ quê, nên hay đứng cạnh những hình ảnh như quán trọ, bến đò, hoàng hôn.
Lữ khách khác du khách thế nào?
Du khách đi để tham quan, vui chơi rồi về; lữ khách nhấn vào chuyến đi dài và thân phận người ở tạm. Một người có thể là du khách ở Đà Lạt ba ngày, nhưng chỉ khi đi lâu, đi xa, ta mới hay gọi họ là lữ khách.
Lữ khách tiếng Anh là gì?
Thường dịch là traveler. Muốn giữ chất văn chương, xa xôi của từ, có thể chọn wayfarer.
Có nên dùng lữ khách trong văn bản hành chính không?
Không nên. Văn bản giao thông, du lịch dùng “hành khách” hoặc “khách du lịch”. Lữ khách hợp với văn miêu tả, thơ, tên quán hay tên bài hát.