Kịch là loại tác phẩm được viết ra để diễn trên sân khấu: câu chuyện không do người kể lại mà hiện ra trực tiếp qua hành động và lời thoại của nhân vật, xoay quanh một xung đột trong đời sống. Kịch vừa là một loại của văn học (cùng với tự sự và trữ tình), vừa là một ngành nghệ thuật sân khấu có đạo diễn, diễn viên, cảnh trí, âm nhạc.
| Khái niệm | Tác phẩm phản ánh đời sống qua xung đột, hành động và lời thoại của nhân vật, dùng để biểu diễn |
| Thuộc | Một trong ba loại văn học: tự sự, trữ tình, kịch |
| Dấu hiệu nhận biết | Xung đột; lời thoại (đối thoại, độc thoại, bàng thoại); chỉ dẫn sân khấu; chia hồi, cảnh |
| Nghĩa chữ | Hán Việt 劇: trò diễn; cũng có nghĩa dữ dội (kịch liệt, kịch độc) |

Kịch thuộc văn học hay sân khấu?
Từ điển tiếng Việt mô tả kịch là nghệ thuật dùng sân khấu để trình bày hành động và đối thoại của các nhân vật, qua đó phản ánh những vấn đề, những xung đột của đời sống xã hội. Trong giờ Ngữ văn, kịch được xem là một trong ba loại lớn của văn học. Truyện có người kể, thơ trữ tình có cái tôi bộc lộ cảm xúc, còn kịch để nhân vật tự nói, tự hành động trước mắt người xem.
Vì sinh ra để diễn, một vở kịch có hai đời sống. Đời thứ nhất là văn bản kịch (kịch bản) mà học sinh đọc trong sách; đời thứ hai là buổi diễn, khi đạo diễn, diễn viên, người dựng cảnh, người làm nhạc cùng biến trang giấy thành hình ảnh sống. Cấu tạo của một văn bản kịch được tách riêng ở bài các thành phần của một kịch bản.
Chữ 劇 trong Hán Việt vốn mang nghĩa mạnh, dữ dội; cùng chữ ấy có kịch liệt, kịch chiến, kịch độc. Nghĩa “trò diễn” có trong những từ như hí kịch, ca kịch. Nghe thì xa nhau, nhưng gợi ý chung là cường độ: sân khấu kịch dồn nén đời sống lại, đẩy mâu thuẫn lên cao hơn ngoài đời.
Năm dấu hiệu nhận ra một văn bản kịch
- Xung đột là hạt nhân. Kịch nào cũng có các lực đối nghịch nhau: người với người, người với hoàn cảnh, hay hai mong muốn trong cùng một con người. Xung đột được đẩy dần lên đỉnh điểm rồi mới được giải quyết. Khái niệm này được giảng kĩ ở bài xung đột kịch khác mâu thuẫn ở chỗ nào.
- Hành động kịch. Câu chuyện tiến lên qua việc nhân vật làm, quyết định, chống trả. Cốt truyện thường gọn và chặt hơn truyện vì phải vừa với vài giờ diễn.
- Lời thoại thay lời kể. Nhân vật lộ tính cách qua đối thoại (nói với nhau), độc thoại (tự nói với mình, xem thêm nhân vật một mình bày tỏ nỗi lòng) và bàng thoại (nói riêng với khán giả, các nhân vật khác coi như không nghe thấy).
- Lời chỉ dẫn sân khấu. Những dòng in nghiêng hoặc đặt trong ngoặc đơn cho biết nơi chốn, thời gian, cử chỉ, giọng nói. Diễn viên không đọc to những dòng này.
- Chia hồi, cảnh (lớp). Vở dài chia thành nhiều hồi, mỗi hồi gồm nhiều cảnh; nhân vật ra hay vào thường mở một lớp mới.
Bi kịch, hài kịch, chính kịch và các hình thức diễn
Có hai cách chia hay gặp. Chia theo tính chất xung đột và cảm xúc để lại:
- Bi kịch: xung đột không thể hóa giải, nhân vật chính thường chịu kết cục đau thương. Đặc trưng thể loại có ở bài những nét riêng của thể loại bi kịch.
- Hài kịch: phơi bày cái xấu, cái lố bằng tiếng cười.
- Chính kịch: nằm giữa hai cực, vừa có nỗi đau vừa có lối thoát, gần với đời thường.
Chia theo phương tiện biểu diễn thì có kịch nói (lời thoại như lời nói thường), kịch thơ (lời thoại viết bằng thơ) và ca kịch (hát là chính). Sân khấu truyền thống Việt Nam như tuồng, chèo, cải lương thuộc nhóm kịch hát. Kịch nói theo lối phương Tây đến sau, vào đầu thế kỉ XX; vở Chén thuốc độc của Vũ Đình Long, diễn ở Nhà hát Lớn Hà Nội năm 1921, thường được coi là vở kịch nói đầu tiên do người Việt viết.
Đọc kịch qua ba vở trong sách Ngữ văn
Trưởng giả học làm sang (Mô-li-e), đoạn “Ông Giuốc-đanh mặc lễ phục”. Đây là hài kịch. Ông Giuốc-đanh giàu có, muốn ra dáng quý tộc nên bị phường thợ may lừa mặc bộ áo hoa ngược mà vẫn hãnh diện. Mỗi lần bọn thợ gọi một tiếng “ông lớn”, “cụ lớn” là ông lại móc tiền thưởng. Tác dụng: tiếng cười bật ra từ khoảng cách giữa cái ông tưởng mình có và cái ông thật sự là, phê phán thói học đòi.
Rô-mê-ô và Giu-li-ét (Sếch-xpia). Đây là bi kịch. Hai người trẻ yêu nhau nhưng thuộc hai dòng họ thù hận. Xung đột giữa tình yêu và hận thù gia tộc đẩy câu chuyện đến kết cục đau đớn. Tác dụng: cái chết của đôi trẻ làm nổi bật giá trị của tình yêu và tố cáo sự vô lí của hận thù. Phần đọc hiểu có trong bài soạn đoạn trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét.
Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ). Hồn ông Trương Ba hiền lành phải trú nhờ trong thân xác anh hàng thịt, dần bị những thói quen của thân xác ấy lấn át. Xung đột nằm ngay trong một con người: giữa linh hồn và thể xác, giữa sống là chính mình và sống nhờ, sống giả. Đoạn đối thoại giữa hồn và xác là ví dụ đẹp về cách kịch biến một ý triết lí thành cuộc tranh cãi có thể diễn được.
Kịch khác truyện ở những điểm nào?
| Tiêu chí | Truyện | Kịch |
|---|---|---|
| Ai dẫn dắt câu chuyện | Người kể chuyện | Không có người kể; nhân vật tự hành động, tự nói |
| Khắc họa nhân vật | Miêu tả ngoại hình, nội tâm, lời kể | Chủ yếu qua lời thoại và hành động |
| Thời gian, không gian | Tự do, có thể kéo dài hàng chục năm | Dồn nén vào các hồi, cảnh |
| Cách tiếp nhận | Đọc | Đọc và xem diễn |
Một mẹo khi làm bài: trong câu trả lời về văn bản kịch, đừng viết “tác giả kể rằng”. Hãy viết “qua lời thoại của nhân vật…” hoặc “lời chỉ dẫn sân khấu cho thấy…”.
Luyện tập nhận diện kịch
Câu 1: Xác định các thành phần trong đoạn sau
Bà mẹ (quay ra phía khán giả, nói nhỏ): Nó mà biết chuyện cái bình vỡ thì hỏng hết. Phần trong ngoặc đơn là gì? Lời của bà mẹ thuộc kiểu lời thoại nào?
Đáp án: Phần trong ngoặc là lời chỉ dẫn sân khấu (cử chỉ, giọng nói). Lời của bà mẹ là bàng thoại, vì bà nói riêng với khán giả, các nhân vật khác trên sân khấu coi như không nghe.
Câu 2: Xếp mỗi vở vào đúng thể loại
Rô-mê-ô và Giu-li-ét; Trưởng giả học làm sang; Hồn Trương Ba, da hàng thịt.
Đáp án: Rô-mê-ô và Giu-li-ét là bi kịch; Trưởng giả học làm sang là hài kịch. Hồn Trương Ba, da hàng thịt thường được xếp vào chính kịch hoặc kịch triết lí, có cả yếu tố bi và hài; xem thêm loại kịch đứng giữa bi và hài.
Câu 3: Nhận định sau đúng hay sai?
“Văn bản kịch cũng có người kể chuyện giống như truyện ngắn.”
Đáp án: Sai. Văn bản kịch không có người kể chuyện; câu chuyện hiện ra qua lời thoại và hành động nhân vật, cùng lời chỉ dẫn sân khấu.
Câu 4: Chữ kịch trong câu nào chỉ thể loại sân khấu?
a) Hai đội giằng co kịch liệt đến phút cuối. b) Giá phòng dịp lễ đã lên kịch trần. c) Lớp em dựng một vở kịch ngắn về an toàn giao thông.
Đáp án: Câu c. Ở câu a, “kịch liệt” mang nghĩa dữ dội của chữ 劇; ở câu b, “kịch trần” là khẩu ngữ chỉ mức cao nhất, giống cách nói ở bài phạt kịch khung nghĩa là phạt ở mức nào.
Kịch trong giờ Ngữ văn và trên sân khấu
Kịch là gì trong văn học?
Là một trong ba loại văn học, phản ánh đời sống qua xung đột và hành động của nhân vật, được trình bày chủ yếu bằng lời thoại để có thể đem lên sân khấu.
Văn bản kịch là gì, gồm những yếu tố nào?
Gồm tên vở, danh sách nhân vật, lời thoại (đối thoại, độc thoại, bàng thoại), lời chỉ dẫn sân khấu và sự phân chia hồi, cảnh. Đằng sau tất cả là xung đột và hành động kịch.
Kịch nói là gì?
Là hình thức kịch mà nhân vật nói như lời nói thường, không hát. Ở Việt Nam, kịch nói xuất hiện đầu thế kỉ XX, chịu ảnh hưởng kịch phương Tây, khác với tuồng, chèo, cải lương vốn lấy hát làm chính.
“Đóng kịch” trong đời thường nghĩa là sao?
Ngoài nghĩa đen là diễn một vai, “đóng kịch” còn chỉ việc giả vờ, làm bộ cho người khác tin: “Thôi đừng đóng kịch nữa, ai cũng biết cậu quên bài rồi.”